Chào mừng quý vị đến với kho học liệu điện tử của Trường tiểu học và trung học cơ sở Ninh Đông
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
SKKN NGỮ VĂN 7

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: H Thảo
Ngày gửi: 21h:51' 16-06-2025
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: H Thảo
Ngày gửi: 21h:51' 16-06-2025
Dung lượng: 17.9 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
- Họ và tên: H' Thảo
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 03/08/1992
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường TH&THCS Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên Ngữ văn Trung học cơ sở
- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn
1. Tên sáng kiến:
“Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông”.
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
“Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương pháp và kĩ
thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông”.
2.2. Mục tiêu
Năm học 2024-2025 là năm học thứ tư ngành giáo dục tiếp tục thực hiện chương
trình giáo dục phổ thông năm 2018. Đây là những bước đi đầu tiên hết sức quan trọng
đánh dấu hành trình cải cách, đổi mới toàn diện và mạnh mẽ của ngành. Theo đó, mục
tiêu chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại, đó là kết hợp dạy chữ, dạy người, định hướng nghề
nghiệp, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Nói cách khác, giáo dục góp phần
đào tạo ra những con người tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh tri
thức, là những con người học để làm, học để chung sống.
Để bám sát mục tiêu trên, Bộ giáo dục có nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo việc thực
hiện chương trình. Và ngày 21 tháng 7 năm 2022, Bộ giáo dục tiếp tục ra công văn
số 3175/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn về việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá môn Ngữ văn bằng việc tăng cường tổ chức các hoạt động thực hành cho học
sinh trong giờ học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Về điều này, công văn
3175 có chỉ rõ: “ Tăng cường hơn nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt
động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe
và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học. Trong quá trình dạy
học, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh;
nêu cụ thể các yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành...” (Trích công văn số
2
3175/BGDĐT-GDTrH V/v hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh
giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, ngày 21 tháng 7 năm 2022).
Để thực hiện đúng hướng dẫn trên, mỗi giáo viên nói chung, giáo viên môn Ngữ văn
nói riêng phải tự tìm tòi, nghiên cứu phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng
học sinh để việc học tập bộ môn thực sự có hiệu quả theo định hướng đã đề ra. Tôi nhận
thấy, việc lựa chọn một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ đem lại hiệu quả
cao cho giờ học Ngữ văn theo định hướng từ công văn nói trên. Đó là lí do tôi lựa chọn
đề tài: “Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông” làm đề tài nghiên
cứu và áp dụng thực nghiệm tại lớp 7 tại trường TH&THCS Ninh Đông mà tôi đang trực
tiếp giảng dạy.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và môn Ngữ văn
lớp 7 nói chung, để hiểu về nội dung chương trình, sách giáo khoa và cách tổ chức dạy và
học sao cho đạt chuẩn yêu cầu về kiến thức, năng lực và phẩm chất của người học.
- Nghiên cứu nội dung công văn 3175 của Bộ GD&ĐT ngày 21 tháng 7 năm 2022 để
làm cơ sở cho việc thực hiện sáng kiến.
- Nghiên cứu về các nội dung từng bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 7- bộ sách
“Cánh diều” và vấn đề phát triển năng lực thực hành cho học sinh lớp 7 trong môn Ngữ
văn.
- Nghiên cứu đối tượng thực nghiệm của đề tài : Học sinh lớp 7 tại trường
TH&THCS Ninh Đông.
- Nghiên cứu các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, có hiệu quả trong việc
tăng cường hoạt động thực hành của học sinh trong giờ Ngữ văn.
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực mang lại hiệu quả trong việc tăng
cường hoạt động thực hành của học sinh trong giờ Ngữ văn lớp 7, bài minh họa thuộc bộ
sách “Cánh diều”, áp dụng tại trường TH&THCS Ninh Đông.
3. Cơ sở pháp lý
3.1 Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm thay đổi và cải tiến các hình thức dạy học
còn nhiều bất cập, không phù hợp với thực tế giáo dục trong tình hình hiện nay. Việc đổi
mới phương pháp dạy học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng được thực hiện một cách
triệt để từ cách nhìn nhận, cách khai thác và truyền thụ kiến thức bài học so với trước
đây. Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo ra một môi trường tốt hơn cho cả thầy
và trò để giáo viên có thể thực hiện giờ dạy theo định hướng phát triển năng lực cho học
3
sinh. Từ đó, học sinh cũng sẽ được tạo cơ hội để phát triển một cách tốt nhất, toàn diện
nhất.
Trong dạy học, phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng đào tạo - đầu ra của quá trình giáo dục. Trở lại những cách dạy và học
truyền thống trước đây chỉ có một chiều từ giáo viên, thầy dạy, trò nghe. Cách dạy và học
ấy khiến học sinh trở nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức. Sự thụ động này tạo ra
sự trì trệ, ngại tìm hiểu, ngại thể hiện quan điểm, lười tư duy, khả năng vận dụng kiến
thức kém, thiếu đi sự sáng tạo v.v...Do đó, cần phải thay đổi phương pháp dạy học khi xã
hội hiện nay cần những con người năng động, có nhiều kỹ năng để bắt nhịp được với
cuộc sống hiện đại. Vì vậy, phương pháp dạy học mới đã thay thế cho phương pháp dạy
học truyền thống, trong đó, người thầy chỉ là người định hướng, dẫn dắt để học trò là
người chủ động tiếp nhận kiến thức; dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh;
dạy học bằng cách tổ chức đa dạng các hoạt động dạy học, dạy học theo hướng tích hợp
liên môn, dạy học gắn với các hoạt động thực hành, luyện tập nhiều hơn là dạy kiến thức
lí thuyết mang tính hàn lâm. Theo tinh thần của công văn 3175 - V/v hướng dẫn đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, ngày 21
tháng 7 năm 2022 , tại nội dung 1, diểm a, công văn có hướng dẫn: “Tăng cường hơn
nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày,
thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức
độ với từng lớp học, cấp học.”
Đối với môn Ngữ văn cấp THCS đổi mới phương pháp cần tập trung vào những
điểm cốt lõi, gồm phương pháp dạy - học linh hoạt, tăng cường cho học sinh thực hành,
rèn luyện các kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe; gắn văn học với đời sống hiện tại. Từ đó,
những hoạt động thực hành, thảo luận, chia sẻ kiến thức… sẽ là nơi tạo điều kiện tốt nhất
cho sự phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Do đó, việc lựa chọn các phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực là một trong những giải pháp hữu hiệu được áp dụng
trong giờ Ngữ văn để đảm bảo mục tiêu trên.
Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp mà ở đó giáo viên sẽ đưa ra những
gợi ý mang tính gợi mở để các em học sinh thảo luận và tự hoàn thành các nhiệm vụ đặt
ra. Vì vậy, sử dụng phương pháp dạy học tích cực giúp phát huy khả năng sáng tạo, sự
chủ động và tính tích cực của người học. Hiện nay, các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế
giới đã đưa ra rất nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến
thức và phát triển năng lực cá nhân một cách toàn diện. Có thể kể đến một số phương
pháp dạy học tích cực đã và đang được vận dụng ở môn Ngữ văn cấp THCS như: Phương
pháp dạy học theo nhóm, phương pháp trò chơi, phương pháp giải quyết vấn đề, phương
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp
đóng vai, phương pháp dạy học theo góc v.v... Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào
cho phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh là điều mà giáo viên cần cân nhắc khi
4
lựa chọn để tiết học vừa đảm bảo việc phát triển năng lực, phẩm chất, lại vừa có các hoạt
động đa dạng, thú vị và hiệu quả hơn.
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức tổ chức các hoạt động của của giáo
viên và học sinh trong các tình huống cụ thể của bài học. Các kỹ thuật dạy học là những
đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Trong đó, có những kỹ thuật dạy học chung,
có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học. Ngày nay người ta chú trọng
phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
nên được gọi là kĩ thuật dạy học tích cực. Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật
dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá
trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và hợp tác của học sinh. Một số kĩ thuật dạy
học tích cực mà giáo viên có thể vận dụng khi dạy môn Ngữ văn như : Kĩ thuật khăn trải
bàn, kĩ thuật X-Y-Z, kĩ thuật 3-2-1, kĩ thuật KWL, kĩ thuật băng chuyền, kĩ thuật sơ đồ tư
duy v.v....
Theo tinh thần của công văn 3175, để có thể “dành nhiều thời gian cho các hoạt
động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe
và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học, nhất thiết giáo viên
phải sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như đã nói ở trên thì mới có
thể đảm bảo yêu cầu.
3.2 Cơ sở thực tiễn
Môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT năm 2018 được tổ chức theo trục kỹ năng,
mỗi tiết học bám sát hoạt động giao tiếp với các kỹ năng đọc, nói, nghe, viết khác hẳn với
cấu trúc chương trình năm 2006. Do đó, đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học
môn Ngữ văn nói riêng là yêu cầu thực tiễn tất yếu, cấp thiết trong lộ trình thực hiện
Chương trình GDPT mới. Để thực hiện chương trình, giáo viên cần chú ý thiết kế các
hoạt động học tập tăng hoạt động thực hành kĩ năng đọc, viết, nói và nghe...của học sinh
bằng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
Triển khai thực hiện công văn trên, các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh đã hướng
dẫn, chỉ đạo giáo viên môn Ngữ văn xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học theo
hướng tăng cường rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc, viết, nói và nghe; hướng dẫn
học sinh thực hành, tiếp nhận và vận dụng kiến thức thông qua các hoạt động học. Và
thực tế, khi thực hiện dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới nói chung và ở
môn Ngữ văn nói riêng, nhiều giáo viên đã mạnh dạn đổi mới, giờ học đã vận dụng sáng
tạo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Đó là luồng gió mới cần được lan tỏa
rộng khắp.
Về đối tượng học sinh: Học sinh trường TH&THCS Ninh Đông đa số là những học
sinh ngoan, có tinh thần hiếu học. Đặc điểm nổi bật về tâm lí và nhận thức của học sinh
lớp 7 là các em nắm bắt vấn đề nhanh, tính tự giác và độc lập cũng phát triển thêm một
bước so với năm học trước. Ở các lớp 7 do tôi trực tiếp giảng dạy, nhiều em học sinh có
năng khiếu học môn Ngữ văn, khả năng thuyết trình, thực hành tốt....đó là điều kiện
thuận lợi để thực hiện các hoạt động thực hành đảm bảo theo yêu cầu của chương trình..
5
Bên cạnh đó, kết hợp với các bài kiểm tra thường xuyên và các giờ dạy đọc hiểu,
viết, nói và nghe, có thể nhận thấy kĩ năng của các em khá tốt. Bởi vậy, giáo viên có thể
áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tăng hoạt động thực hành ở
nhiều phương diện, từ khâu chuẩn bị bài ở nhà đến các hoạt động tại lớp học, trong khi
hoạt động nhóm hoặc hoạt động cá nhân. Việc làm này sẽ góp phần thay đổi tình trạng
dạy học nặng về thuyết giảng, đọc chép ... trong môn Ngữ văn và giúp học sinh phát triển
tư duy, cảm xúc, tăng vốn sống và năng lực ngôn ngữ để làm công cụ học tập cho tất cả
các môn học. Làm được như vậy, mỗi giáo viên đã góp phần thực hiện thành công mục
tiêu đổi mới GDĐT theo yêu cầu hiện nay.
4. Thực trạng
4.1 Ưu điểm
- Tôi đã có điều kiện công tác giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS đã hơn 11 năm.
Khoảng thời gian ấy đã giúp tôi tích lũy được một số kinh nghiệm trong vấn đề nâng cao
chất lượng dạy học, trong đó có đề tài được trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm này.
Bên cạnh đó, tôi được Ban giám hiệu, tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên giàu kinh
nghiệm của nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi yên tâm và tích cực
trong công tác giảng dạy.
- Thư viện trường có nhiều tài liệu chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy.
- Các em học sinh xuất thân nguồn gốc thuần nông, có ý thức vươn lên trong học tập, có
nhiều thành tích cao đáng khen.
- Về chương trình Ngữ văn lớp 7: Tôi đã trải qua công tác giảng dạy chương trình lớp 7
cũ 5 năm và chương trình lớp 7 mới 2 năm nên có điều kiện để so sánh, đối chiếu việc
thực hiện phương pháp dạy học cũ và mới có hiệu quả khác nhau như thế nào. Từ thực tế
dạy học đó, tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm để thay đổi bản thân, thay đổi
phương pháp dạy học để đáp ứng với yêu cầu hiện nay.
4.2 Nhược điểm
Bên cạnh đó, tôi vẫn còn gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy môn
Ngữ văn:
- Bản thân còn đang loay hoay trong việc làm quen, tiếp cận với đối tượng học
sinh của mình để phân loại và tìm ra những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
- Về phía học sinh có vài em chưa quan tâm đến môn học, chưa rèn luyện được tư
duy phản biện cho bản thân, kĩ năng nói và thuyết trình chưa tốt.
5. Mô tả sáng kiến
5.1 Về nội dung của sáng kiến
5.1.1. Tăng hoạt động thực hành tự học
Đối với học sinh, tự học là tự bản thân các em chủ động tìm tòi, lĩnh hội kiến thức
bằng nhiều con đường khác nhau. Tự học giúp các em chủ động nắm bắt nội dung, ý
6
nghĩa của bài học, vận dụng được các kiến thức từ bài học vào thực tiễn. Tự học cũng là
hoạt động thực hành các nội dung được giáo viên giao cho khi về nhà. Trong môn Ngữ
văn, có nhiều bài học cần sự chuẩn bị trước thì việc tìm hiểu bài trên lớp mới đảm bảo
mục tiêu phát triển năng lực học sinh nên hoạt động tự học của học sinh vô cùng quan
trọng. Để học sinh có thể thực hiện tốt việc tự học, giáo viên không giao nhiệm vụ một
cách chung chung (Với cách thực hiện ở chương trình cũ, giáo viên thường dặn dò học
sinh: Về nhà các em đọc và trả lời câu hỏi số...trong sách giáo khoa v.v...). Hiện nay,
việc hướng dẫn học bài ở nhà phải đươc cụ thể hóa bằng cách định hướng thông qua các
phiếu học tập với những nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Giáo viên sẽ gửi phiếu học tập đó lên
nhóm zalo hoặc phần mềm Padlet để định hướng các nội dung học sinh cần tự học và học
sinh chủ động tìm hiểu kiến thức trước khi đến lớp. Khi đó, các hoạt động giao nhiệm vụ
cho học sinh trên lớp sẽ tiết kiệm được thời gian và đảm bảo được chất lượng của hoạt
động tìm hiểu kiến thức trong bài học. Thực hành tốt nhiệm vụ tự học theo các phiếu tự
học sẽ giúp cho học sinh hình thành ý thức học tập chủ động, năng lực của học sinh sẽ
được bộc lộ đầy đủ hơn so với trước đây. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ 4.0,
chuẩn bị cho hoạt động tự học trở nên dễ dàng. Giáo viên có thể thiết kế phiếu tự học để
giao nhiệm vụ cho học sinh một cách nhanh chóng, thuận tiện hơn rất nhiều. Thông qua
các phần mềm, như canva hay AI, phiếu học tập được trình bày đẹp mắt, sinh động, gây
hứng thú cho học sinh. Phiếu sẽ được gửi lên Zalo hoặc Padlet để học sinh tải về (Nếu sử
dụng Padlet mọi thao tác sẽ thuận lợi hơn Zalo rất nhiều, bài đăng của học sinh sẽ không
bị trôi như tin nhắn trên Zalo. Sau khi học sinh thực hiện xong bài làm sẽ được chuyển
vào Padlet, giáo viên vào Padlet kiểm tra bài, xem việc chuẩn bị bài của học sinh đã nắm
được kiến thức nào và kiến thức nào cần được giáo viên củng cố, hỗ trợ thêm). Đối với
học sinh, các em thích thú với viêc giao bài online vì sẽ thường xuyên được tiếp cận với
công nghệ thông tin trong học tập. Bên cạnh đó, phiếu hướng dẫn tự học cũng có thể
dùng để gửi cho phụ huynh để phụ huynh nhắc nhở, giám sát con việc hoàn thành nhiệm
vụ học tập giáo viên giao cho. Việc hướng dẫn tự học tập bằng các phiếu tự học giúp học
sinh làm quen với việc học tập trong xã hội hiện đại. Sau nhiều lần được thực hành, học
sinh có kĩ năng chuẩn bị bài và hình thành năng lực học tập chủ động cho bản thân.
Một trong những phương pháp giao nhiệm vụ tự học thông qua phiếu học tập online
như vừa trình bày ở trên có thể sử dụng kĩ thuật KWL rất phù hợp. Đây là dạng phiếu
học tập sử dụng kĩ thuật dạy học hiện đại do Donna Ogle giới thiệu năm 1986. Ban đầu,
kĩ thuật dạy học này vốn là một hình thức tổ chức dạy đọc hiểu. Vì vậy, phiếu KWL rất
phù hợp với việc tự thực hành đọc hiểu ở nhà. Để thực hiện kĩ thuật này, giáo viên thiết
kế một phiếu học tập với tên gọi là “Phiếu KWL”. Phiếu này dành cho học sinh tự học
gồm 3 có cột. Trong đó cột K ( know- biết) học sinh nêu điều em đã biết về đơn vị kiến
thức của bài học học đó. Để có thể ghi chép được điều em đã biết tại cột (K), học sinh
phải đọc văn bản để nắm được kiến thức của bài. Giáo viên cũng có thể gợi ý cho học
sinh bằng những câu hỏi cụ thể ghi sẵn trong phiếu. Tiếp đó, tại cột W (want - muốn) học sinh nêu điều em muốn biết về về đơn vị kiến thức của bài học học đó. Muốn vậy,
học sinh phải tư duy, động não nghiên cứu vấn đề. Riêng cột L (Learn - học) học sinh
7
nêu điều em học được sau khi học xong bài học/đơn vị kiến thức trong bài. Như vậy, sử
dụng phiếu KWL là kĩ thuật dạy học phát huy tốt nhất tính tích cực, chủ động của học
sinh trong vấn đề tự học. Đồng thời, kĩ thuật dạy học KWL cũng rất phù hợp với cách tổ
chức dạy học theo mô hình “Lớp học đảo ngược” - Đây là một trong những mô hình dạy
học tích cực và hiện đại đang được khuyến khích vận dụng trong các nhà trường hiện
nay. Bởi vì, phiếu học tập này khai thác được kiến thức có sẵn hoặc kiến thức học sinh
chủ động tìm hiểu về chủ đề gắn với bài học. Đồng thời, phiếu KWL cũng định hình rõ
mục tiêu cho hoạt động tìm hiểu nội dung bài học và tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý
tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài học.
Trong thực tế, phiếu KWL có thể vận dụng đối với tất cả các bài dạy đọc hiểu văn
bản hay thực hành tiếng Việt hay dạy viết, dạy nói và nghe. Đối với phần đọc hiểu văn
bản, sử dụng phiếu KWL là cách tăng cường hoạt động thực hành đọc hiểu cho học sinh
ở nhà trước khi đến lớp đến lớp. Khi sử dụng phiếu tự học KWL, phiếu phù hợp với
những văn bản có phạm vi kiến thức rộng, và những văn bản cần huy động kiến thức thực
tế của học sinh (Chẳng hạn như văn bản thông tin : Ca Huế, Hội thi thổi cơm, Những nét
đặc sắc trên đất vật Bắc Giang,...trong bộ sách Ngữ văn 7 tập 1 bộ Cánh diều). Đối với
dạy thực hành tiếng Việt, cột (K) luôn là kiến thức về phần tri thức tiếng Việt. Với cách
dạy thực hành tiếng Việt hiện nay, phần lí thuyết giáo viên chỉ dành ít phút để giới thiệu
cho học sinh nên học sinh tự học được là hình thức tốt nhất để tăng hoạt động thực hành
vận dụng kiến thức được nhiều hơn. Cột (W) dành cho dạy học phân hóa đối tượng học
sinh (Ví dụ : Em muốn biết phân biệt biện pháp tu từ ẩn dụ với hoán dụ?). Do đó, không
bắt buộc hay định lượng nội dung phải hoàn thành cột (W); và cột (L) dành cho kiến thức
tiếng Việt được vận dụng vào thực tế mà học sinh tự rút ra trong quá trình vận dụng.
Tương tự như vậy, giờ học về kĩ năng viết, cột (K) học sinh sẽ chủ động tìm hiểu lí
thuyết kiểu bài, cột (W) học sinh đặt câu hỏi về kĩ năng tạo lập văn bản (Ví dụ : Cách nêu
bằng chứng trong văn nghị luận...). Còn lại cột (L) dành cho việc dạy học phân hóa đối
tượng học sinh, không bắt buộc học sinh phải hoàn thành. Như vậy, kĩ thuật KWL sẽ
được vận dụng linh hoạt theo từng bài, từng kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh. Đây
cũng là kĩ thuật dạy học rất phù hợp với các tiết dạy học theo dự án.
Minh họa: Phiếu học tập KWL hướng dẫn học sinh tự học ở nhà chuẩn bị cho tiết đọc
hiểu văn bản “Ca Huế”
8
Minh họa: Phiếu học tập KWL hướng dẫn học sinh tự học ở nhà chuẩn bị cho tiết
thực hành tiếng Việt
Bằng các phiếu KWL để hướng dẫn học sinh tự học, giáo viên giúp cho việc tìm
hiểu bài trở nên có định hướng, nội dung tìm hiểu vừa sát với các thông tin trong bài học,
vừa giới hạn được dung lượng kiến thức cần tìm hiểu cho phù hợp với thời gian học sinh
9
sẽ báo cáo các nội dung tự học trên lớp, vừa gợi mở được những tìm tòi, sáng tạo của
học sinh trước và sau khi tự học.
Nếu không có hoạt động tìm hiểu trước, học sinh có thể không quan tâm đến kiến
thức trong bài học, và việc tiếp nhận kiến thức sẽ chỉ giới hạn trong sách giáo khoa. Cách
tiếp nhận ấy lại quay về với phương pháp dạy học truyền thống trước đây. Vì vậy, có thể
nói phiếu KWL rất thuận tiện trong khi giáo viên sử dụng phương pháp giao nhiệm vụ tự
học cho học sinh. Và đây là một trong những phương pháp dạy học sinh thực hành tìm
kiếm thông tin phù hợp với giáo dục hiện đại.
Phiếu KWL có thể giao cho cá nhân hoặc nhóm thực hiện tùy theo cách bố trí của
giáo viên. Giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài dạy để yêu cầu sử dụng phiếu KWL hợp lí và
hiệu quả, tránh lạm dụng kĩ thuật này làm cho việc tự học của học sinh trở nên áp lực.
Ngoài phiếu KWL, giáo viên có thể thiết kế các mẫu phiếu hướng dẫn tự học khác
với các nội dung vừa sức học sinh, hình ảnh, màu sắc đẹp để tạo hứng thú cho học sinh
khi tiếp nhận phiếu.
5.1.2.Tăng hoạt động thực hành chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ học tập được giao
Sau khâu học sinh tự chuẩn bị các nội dung theo phiếu tự học và theo hướng dẫn
của giáo viên, giáo viên cần cho học sinh được thể hiện phần nội dung tự học bằng cách
tổ chức các hoạt động chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ tự học được giao bằng những hình thức
phù hợp. Thông qua việc chia sẻ và báo cáo các nội dung tự học, học sinh được kiểm tra,
đánh giá, được học hỏi bạn bè và rút kinh nghiệm cho bản thân. Đây chính là mục đích
cuối cùng của dạy học phát triển năng lực học sinh và cho học sinh thực hành rèn luyện
nhiều kĩ năng khác nhau như kĩ năng thuyết trình, là việc nhóm, bày tỏ ý kiến cá nhân
v.v…Trong quá trình thực hành các hoạt động này, giáo viên chỉ là người tổ chức các
hoạt động học tập, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá học sinh nên giáo viên cần vận dụng
các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực hiện đại để học sinh hào hứng học tập và
được phát huy khả năng của mình.
Sau đây là một số cách tổ chức hoạt động theo các kĩ thuật dạy học tích cực để
tăng hoạt động thực hành chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ học tập được giao của học sinh trên
lớp:
5.1.2.1. Kĩ thuật trạm:
Dạy học bằng kĩ thuật trạm là việc giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ các
nhiệm vụ học tập một cách chủ động, tự lực ngay trong không gian của lớp học để giải
quyết các nhiệm vụ trong giờ học. Kĩ thuật dạy học theo trạm phù hợp với bài dạy có ít
nhất từ hai nội dung độc lập nhau. Đây cũng là kĩ thuật dạy học tích cực mới mẻ kết hợp
từ hai kĩ thuật khác: Kĩ thuật nhóm và kĩ thuật mảnh ghép. Nếu giờ học thực hiện kĩ thuật
nhóm thì các thành viên mỗi nhóm hoạt động độc lập. Nhưng khi kết hợp kĩ thuật nhóm
và kĩ thuật mảnh ghép, học sinh được thực hành chia sẻ kiến thức hoặc nghe chia sẻ kiến
thức nhiều lần từ các thành viên khác nhau. Vì vậy mà quá trình tiếp thu kiến thức cũng
trở nên sinh động hơn, gây chú ý cho học sinh nhiều hơn. Học sinh sẽ được thực hành
10
chia sẻ nhiều hơn trong một giờ học chứ không phải là báo cáo sản phẩm của hoạt động
nhóm thông thường.
Cách tức tổ chức dạy học theo trạm như sau:
* Bước 1: Giáo viên chia nhóm học sinh.
- Mỗi nhóm được gọi là một trạm học tập. Các thành viên trong nhóm được gọi là
“chuyên gia” (nhóm “chuyên gia”).
- Mỗi trạm thực hiện một nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao theo nội dung bài
học. (Các nhiệm vụ học tập được đánh theo số thứ tự A,B,C,D...Các thành viên có thể
đánh số thứ tự hoặc dùng thẻ màu để học sinh không bị nhầm lẫn).
Hình ảnh minh họa:
* Bước 2: Giáo viên cho học sinh chuyển nhóm tạo thành nhóm mới.
- Nhóm này được gọi là nhóm các mảnh ghép
- Sau khi các nhóm chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm mảnh ghép sẽ
được hình thành bằng cách di chuyển số thành viên trong nhóm chuyên gia theo sơ đồ
hướng dẫn của giáo viên như sau :
11
- Mỗi nhóm mảnh ghép sẽ bao gồm những thành viên đến từ các nhóm chuyên
gia ban đầu và tạo thành nhóm mới, nhận nhiệm vụ mới. Các chuyên gia của nhóm giảng
nội dung nhóm mình tại trạm mới, các thành viên khác nghe và tiếp thu kiến thức. Bài
học có bao nhiêu đơn vị kiến thức thì học sinh có bấy nhiêu vòng chia sẻ kiến thức cho
nhau để hoàn thành bài học.
- Kết thúc thời gian, các chuyên gia di chuyển trạm học tập theo hướng dẫn của
giáo viên để về các trạm học tập ban đầu, thực hiện báo cáo các nhiệm vụ giáo viên đã
giao.
* Bước 3: Giáo viên kiểm tra, tổng kết hoạt động, cho học sinh thuyết trình
các nội dung vừa học tập qua các trạm
Giáo viên có thể gọi bất kì thành viên nào trong nhóm để báo cáo nội dung vừa
được học tập qua các trạm.
Như vậy, thực hiện dạy học theo kĩ thuật trạm, giáo viên chỉ cần chia trạm, giao
nhiệm vụ học tập, cung cấp tài liệu học tập, theo dõi hoạt động của học sinh, nhận ra
những điều cần trợ giúp đúng lúc, đúng đối tượng.
Theo một số nghiên cứu khoa học, dạy học bằng kĩ thuật này sẽ giúp học sinh có
được khả năng ghi nhớ kiến thức tốt nhất. Về khả năng ghi nhớ của con người, chúng ta
sẽ có thể ghi nhớ được khoảng từ 5% đến 10% thông tin kiến thức khi nghe, đọc; ghi nhớ
được khoảng 50% thông tin kiến thức khi thảo luận cùng nhau và ghi nhớ được khoảng
từ 85% đến 90% thông tin kiến thức khi hoạt động và giảng giải cho người khác. Điều đó
rất đúng với đặc trưng của kỹ thuật dạy học này. Cũng như khi sử dụng các phương pháp,
12
kĩ thuật dạy học tích cực khác, việc sử dụng kĩ thuật dạy học theo trạm trong dạy học sẽ
tạo không khí học tập thoải mái, sinh động nhưng vẫn hiệu quả. Người học sẽ được tạo
cơ hội để giao tiếp, thể hiện quan điểm riêng. Đồng thời, dạy học sử dụng kĩ thuật theo
trạm sẽ giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực
hành động, năng lực hợp tác làm việc của học sinh, đặc biệt được thực hành kĩ năng
thuyết trình cho tất cả học sinh trong lớp và từ đó sẽ rèn luyện sự tự tin cho các em.
Minh họa 1: Sử dụng kĩ thuật trạm khi dạy đọc Thực hành tiếng Việt ( Các biện
pháp tu từ: tương phản, so sánh, câu hỏi tu từ - Bài 2)
Bài học cần thực hành 3 đơn vị kiến thức vè 3 biện pháp tu từ: Tương phản, so
sánh, câu hỏi tu từ. Để tăng hoạt động thực hành tự tìm hiểu và chia sẻ kiến thức của học
sinh, giáo viên tổ chức hoạt động theo kĩ thuật trạm kết hợp với mảnh ghép như sau:
Nhiệm vụ chung: Nêu các bước làm bài tập phát hiện biện pháp tu từ và nêu tác
dụng của biện pháp tu từ.
Nhiệm vụ riêng cho từng trạm như sau: Chia lớp làm 3 trạm
- Trạm 1 - giải bài tập 1.
- Trạm 2 - Giải bài tập 2.
- Trạm 3 - giải bài tập 4.
Sau thời gian 8 phút, các nhóm chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ chung và nhiệm
vụ riêng cuả từng nhóm.
Tiếp đó, các nhóm mảnh ghép sẽ được hình thành bằng cách di chuyển các thành
viên vòng tròn theo sơ đồ hướng dẫn của giáo viên để tạo thành nhóm mới. Các chuyên
gia giảng nội dung của nhóm mình. Thời gian trình bày tại vòng 2 và vòng 3, mỗi vòng 5
phút. Như vậy, sau 18 phút (Chưa tính thời gian di chuyển) các nhóm sẽ hoàn thành đủ 3
nội dung, 3 bài tập trong sách giáo khoa và trở về trạm học tập ban đầu để trình bày trước
lớp theo yêu cầu của giáo viên. Cuối cùng giáo viên chữa bài, củng cố kiến thức.
Riêng bài tập 4 trong sách giáo khoa của bài này cho hoạt động cá nhân.
Minh họa 2: Sử dụng kĩ thuật trạm khi dạy đọc đọc hiểu “Tục ngữ về thiên nhiên,
lao động và con người, xã hội” (Văn bản 2- Bài 6):
Văn bản gồm có 8 câu tục ngữ được chia làm 2 hai nhóm: Nhóm 1- Tục ngữ về
thiên nhiên và lao động; nhóm 2- Tục ngữ về con người và xã hội. Khi thực hiện bài dạy
bằng kĩ thuật trạm, giáo viên có thể tổ chức lớp học làm 2 trạm học tập tương ứng với 2
đơn vị kiến thức vừa kể trên (hoặc 4 trạm học tập thì 2 trạm sẽ chung một nhiệm vụ, nếu
6 trạm thì 3 trạm chung một nhiệm vụ). Yêu cầu chung cho các trạm là: Tìm hiểu đặc
điểm hình thức của những câu tục ngữ, tìm hiểu nội dung các câu tục ngữ, chỉ ra các
trường hợp có thể vận dụng câu tục ngữ. Các nhóm tự lựa chọn hình thức trình bày sản
phẩm lên giấy A0.
Nhiệm vụ riêng cho từng trạm như sau: Trạm 1 - Tìm hiểu các câu tục ngữ số
13
1,2,3,4. Trạm 2 - Tìm hiểu các câu tự ngữ số 5,6,7,8. Thời gian cho mỗi nhóm là 7-10
phút, tùy theo năng lực của học sinh ở từng lớp. Như vậy, khi học sinh 2 nhóm hoàn
nhiệm vụ được giao ban đầu là lớp có 2 nhóm chuyên gia ở vòng 1.
Tiếp đó, tại vòng 2, các nhóm mảnh ghép sẽ được hình thành bằng cách di chuyển
thành viên theo sơ đồ và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chia sẻ:
Sau khi hoàn thành đủ hai nội dung về hai nhóm tục ngữ, học sinh về các trạm học
tập ban đầu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh thuyết trình các nội dung vừa học tập qua
các trạm. Bất kì thành viên nào cũng có thể trình bày được một trong các nội dung mà
giáo viên yêu cầu bởi các em đã được nghe bạn mình trình bày. Và giáo viên cho các học
sinh khác nhận xét, đánh giá phần trình bày của học sinh đó và kết luận vấn đề.
Khi thực hiện những kĩ thuật dạy học trên, học sinh lớp 7 trường TH&THCS Ninh
Đông thực hiện khá tốt. Các em nắm bắt nhanh phương pháp thực hiện và tích cực học
tập, chia sẻ kiến thức. Vì vậy, giờ học sôi nổi, học sinh tích cực, chủ động. Giáo viên
không cần thuyết trình nhiều như trước.
14
Đối với những bài học chứa các đơn vị kiến thức riêng, như bài Tục ngữ về thiên
nhiên, lao động và con người xã hội hay bài Thực hành tiếng Việt (Biện pháp tu từ nói
quá, so sánh, câu hỏi tu từ). Nếu hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm thông thường,
học sinh sẽ thấy nhàm chán bởi các câu hỏi đặt ra cho mỗi kiến thức đều như nhau.
Chẳng hạn: Tìm hiểu đặc điểm hình thức của những câu tục ngữ, tìm hiểu nội dung các
câu tục ngữ, chỉ ra các trường hợp có thể vận dụng câu tục ngữ ở cả hai nhóm. Hoặc chỉ
ra và nêu tác dụng của ba biện pháp tu từ trong 4 bài tập (Câu hỏi lặp lại ở cả 4 bài tập).
Do đó, tổ chức dạy học với phương pháp và kĩ thuật như vừa trình bày ở trên sẽ làm cho
học sinh hào hứng hơn và được thực hành chia sẻ kiến thức nhiều hơn. Vì vậy, kĩ thuật
dạy học theo trạm là kĩ thuật phù hợp để vận dụng vào các đơn vị bài học có nhiều kiến
thức mang tính độc lập nhau.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 7 (Bộ sách “Cánh diều”) có một số bài học có thể
áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm như : Thực hành tiếng Việt về số từ, phó từ (Bài 3Hai đơn vị k...
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
- Họ và tên: H' Thảo
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 03/08/1992
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường TH&THCS Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên Ngữ văn Trung học cơ sở
- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm Ngữ văn
1. Tên sáng kiến:
“Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương pháp
và kĩ thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông”.
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến
“Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương pháp và kĩ
thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông”.
2.2. Mục tiêu
Năm học 2024-2025 là năm học thứ tư ngành giáo dục tiếp tục thực hiện chương
trình giáo dục phổ thông năm 2018. Đây là những bước đi đầu tiên hết sức quan trọng
đánh dấu hành trình cải cách, đổi mới toàn diện và mạnh mẽ của ngành. Theo đó, mục
tiêu chương trình được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực học sinh, phù hợp
với xu thế phát triển của thời đại, đó là kết hợp dạy chữ, dạy người, định hướng nghề
nghiệp, phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh. Nói cách khác, giáo dục góp phần
đào tạo ra những con người tích cực, chủ động, sáng tạo trong hoạt động chiếm lĩnh tri
thức, là những con người học để làm, học để chung sống.
Để bám sát mục tiêu trên, Bộ giáo dục có nhiều văn bản hướng dẫn, chỉ đạo việc thực
hiện chương trình. Và ngày 21 tháng 7 năm 2022, Bộ giáo dục tiếp tục ra công văn
số 3175/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn về việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra
đánh giá môn Ngữ văn bằng việc tăng cường tổ chức các hoạt động thực hành cho học
sinh trong giờ học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Về điều này, công văn
3175 có chỉ rõ: “ Tăng cường hơn nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo
của học sinh trong quá trình học tập môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt
động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe
và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học. Trong quá trình dạy
học, giáo viên cần giao nhiệm vụ học tập rõ ràng, phù hợp với khả năng của học sinh;
nêu cụ thể các yêu cầu về sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành...” (Trích công văn số
2
3175/BGDĐT-GDTrH V/v hướng dẫn đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh
giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, ngày 21 tháng 7 năm 2022).
Để thực hiện đúng hướng dẫn trên, mỗi giáo viên nói chung, giáo viên môn Ngữ văn
nói riêng phải tự tìm tòi, nghiên cứu phương pháp dạy học sao cho phù hợp với đối tượng
học sinh để việc học tập bộ môn thực sự có hiệu quả theo định hướng đã đề ra. Tôi nhận
thấy, việc lựa chọn một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực sẽ đem lại hiệu quả
cao cho giờ học Ngữ văn theo định hướng từ công văn nói trên. Đó là lí do tôi lựa chọn
đề tài: “Tăng hoạt động thực hành trong giờ học Ngữ văn lớp 7 bằng các phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực tại trường TH&THCS Ninh Đông” làm đề tài nghiên
cứu và áp dụng thực nghiệm tại lớp 7 tại trường TH&THCS Ninh Đông mà tôi đang trực
tiếp giảng dạy.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và môn Ngữ văn
lớp 7 nói chung, để hiểu về nội dung chương trình, sách giáo khoa và cách tổ chức dạy và
học sao cho đạt chuẩn yêu cầu về kiến thức, năng lực và phẩm chất của người học.
- Nghiên cứu nội dung công văn 3175 của Bộ GD&ĐT ngày 21 tháng 7 năm 2022 để
làm cơ sở cho việc thực hiện sáng kiến.
- Nghiên cứu về các nội dung từng bài học trong sách giáo khoa Ngữ văn 7- bộ sách
“Cánh diều” và vấn đề phát triển năng lực thực hành cho học sinh lớp 7 trong môn Ngữ
văn.
- Nghiên cứu đối tượng thực nghiệm của đề tài : Học sinh lớp 7 tại trường
TH&THCS Ninh Đông.
- Nghiên cứu các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực, có hiệu quả trong việc
tăng cường hoạt động thực hành của học sinh trong giờ Ngữ văn.
2.3.2 Phạm vi nghiên cứu
Các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực mang lại hiệu quả trong việc tăng
cường hoạt động thực hành của học sinh trong giờ Ngữ văn lớp 7, bài minh họa thuộc bộ
sách “Cánh diều”, áp dụng tại trường TH&THCS Ninh Đông.
3. Cơ sở pháp lý
3.1 Cơ sở lý luận
Đổi mới phương pháp dạy học là việc làm thay đổi và cải tiến các hình thức dạy học
còn nhiều bất cập, không phù hợp với thực tế giáo dục trong tình hình hiện nay. Việc đổi
mới phương pháp dạy học nói chung, môn Ngữ văn nói riêng được thực hiện một cách
triệt để từ cách nhìn nhận, cách khai thác và truyền thụ kiến thức bài học so với trước
đây. Việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm tạo ra một môi trường tốt hơn cho cả thầy
và trò để giáo viên có thể thực hiện giờ dạy theo định hướng phát triển năng lực cho học
3
sinh. Từ đó, học sinh cũng sẽ được tạo cơ hội để phát triển một cách tốt nhất, toàn diện
nhất.
Trong dạy học, phương pháp giảng dạy là yếu tố quan trọng và ảnh hưởng rất lớn
đến chất lượng đào tạo - đầu ra của quá trình giáo dục. Trở lại những cách dạy và học
truyền thống trước đây chỉ có một chiều từ giáo viên, thầy dạy, trò nghe. Cách dạy và học
ấy khiến học sinh trở nên thụ động trong việc tiếp thu kiến thức. Sự thụ động này tạo ra
sự trì trệ, ngại tìm hiểu, ngại thể hiện quan điểm, lười tư duy, khả năng vận dụng kiến
thức kém, thiếu đi sự sáng tạo v.v...Do đó, cần phải thay đổi phương pháp dạy học khi xã
hội hiện nay cần những con người năng động, có nhiều kỹ năng để bắt nhịp được với
cuộc sống hiện đại. Vì vậy, phương pháp dạy học mới đã thay thế cho phương pháp dạy
học truyền thống, trong đó, người thầy chỉ là người định hướng, dẫn dắt để học trò là
người chủ động tiếp nhận kiến thức; dạy học theo hướng phát triển năng lực học sinh;
dạy học bằng cách tổ chức đa dạng các hoạt động dạy học, dạy học theo hướng tích hợp
liên môn, dạy học gắn với các hoạt động thực hành, luyện tập nhiều hơn là dạy kiến thức
lí thuyết mang tính hàn lâm. Theo tinh thần của công văn 3175 - V/v hướng dẫn đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn ở trường phổ thông, ngày 21
tháng 7 năm 2022 , tại nội dung 1, diểm a, công văn có hướng dẫn: “Tăng cường hơn
nữa việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình học tập
môn Ngữ văn; dành nhiều thời gian cho các hoạt động thực hành, vận dụng, trình bày,
thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức
độ với từng lớp học, cấp học.”
Đối với môn Ngữ văn cấp THCS đổi mới phương pháp cần tập trung vào những
điểm cốt lõi, gồm phương pháp dạy - học linh hoạt, tăng cường cho học sinh thực hành,
rèn luyện các kĩ năng: đọc, viết, nói, nghe; gắn văn học với đời sống hiện tại. Từ đó,
những hoạt động thực hành, thảo luận, chia sẻ kiến thức… sẽ là nơi tạo điều kiện tốt nhất
cho sự phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh. Do đó, việc lựa chọn các phương
pháp và kĩ thuật dạy học tích cực là một trong những giải pháp hữu hiệu được áp dụng
trong giờ Ngữ văn để đảm bảo mục tiêu trên.
Phương pháp dạy học tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực
Phương pháp dạy học tích cực là phương pháp mà ở đó giáo viên sẽ đưa ra những
gợi ý mang tính gợi mở để các em học sinh thảo luận và tự hoàn thành các nhiệm vụ đặt
ra. Vì vậy, sử dụng phương pháp dạy học tích cực giúp phát huy khả năng sáng tạo, sự
chủ động và tính tích cực của người học. Hiện nay, các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế
giới đã đưa ra rất nhiều phương pháp dạy học tích cực nhằm giúp học sinh tiếp thu kiến
thức và phát triển năng lực cá nhân một cách toàn diện. Có thể kể đến một số phương
pháp dạy học tích cực đã và đang được vận dụng ở môn Ngữ văn cấp THCS như: Phương
pháp dạy học theo nhóm, phương pháp trò chơi, phương pháp giải quyết vấn đề, phương
pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp
đóng vai, phương pháp dạy học theo góc v.v... Tuy nhiên, việc lựa chọn phương pháp nào
cho phù hợp với bài học, với đối tượng học sinh là điều mà giáo viên cần cân nhắc khi
4
lựa chọn để tiết học vừa đảm bảo việc phát triển năng lực, phẩm chất, lại vừa có các hoạt
động đa dạng, thú vị và hiệu quả hơn.
Kỹ thuật dạy học là những biện pháp, cách thức tổ chức các hoạt động của của giáo
viên và học sinh trong các tình huống cụ thể của bài học. Các kỹ thuật dạy học là những
đơn vị nhỏ nhất của phương pháp dạy học. Trong đó, có những kỹ thuật dạy học chung,
có những kỹ thuật đặc thù của từng phương pháp dạy học. Ngày nay người ta chú trọng
phát triển và sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học
nên được gọi là kĩ thuật dạy học tích cực. Các kỹ thuật dạy học tích cực là những kỹ thuật
dạy học có ý nghĩa đặc biệt trong việc phát huy sự tham gia tích cực của học sinh vào quá
trình dạy học, kích thích tư duy, sự sáng tạo và hợp tác của học sinh. Một số kĩ thuật dạy
học tích cực mà giáo viên có thể vận dụng khi dạy môn Ngữ văn như : Kĩ thuật khăn trải
bàn, kĩ thuật X-Y-Z, kĩ thuật 3-2-1, kĩ thuật KWL, kĩ thuật băng chuyền, kĩ thuật sơ đồ tư
duy v.v....
Theo tinh thần của công văn 3175, để có thể “dành nhiều thời gian cho các hoạt
động thực hành, vận dụng, trình bày, thảo luận để rèn luyện kĩ năng đọc, viết, nói, nghe
và cảm thụ thẩm mĩ theo yêu cầu, mức độ với từng lớp học, cấp học, nhất thiết giáo viên
phải sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực như đã nói ở trên thì mới có
thể đảm bảo yêu cầu.
3.2 Cơ sở thực tiễn
Môn Ngữ văn theo Chương trình GDPT năm 2018 được tổ chức theo trục kỹ năng,
mỗi tiết học bám sát hoạt động giao tiếp với các kỹ năng đọc, nói, nghe, viết khác hẳn với
cấu trúc chương trình năm 2006. Do đó, đổi mới dạy học nói chung và đổi mới dạy học
môn Ngữ văn nói riêng là yêu cầu thực tiễn tất yếu, cấp thiết trong lộ trình thực hiện
Chương trình GDPT mới. Để thực hiện chương trình, giáo viên cần chú ý thiết kế các
hoạt động học tập tăng hoạt động thực hành kĩ năng đọc, viết, nói và nghe...của học sinh
bằng một số phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
Triển khai thực hiện công văn trên, các trường phổ thông trên địa bàn tỉnh đã hướng
dẫn, chỉ đạo giáo viên môn Ngữ văn xây dựng kế hoạch bài dạy và tổ chức dạy học theo
hướng tăng cường rèn luyện cho học sinh phương pháp đọc, viết, nói và nghe; hướng dẫn
học sinh thực hành, tiếp nhận và vận dụng kiến thức thông qua các hoạt động học. Và
thực tế, khi thực hiện dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới nói chung và ở
môn Ngữ văn nói riêng, nhiều giáo viên đã mạnh dạn đổi mới, giờ học đã vận dụng sáng
tạo các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực. Đó là luồng gió mới cần được lan tỏa
rộng khắp.
Về đối tượng học sinh: Học sinh trường TH&THCS Ninh Đông đa số là những học
sinh ngoan, có tinh thần hiếu học. Đặc điểm nổi bật về tâm lí và nhận thức của học sinh
lớp 7 là các em nắm bắt vấn đề nhanh, tính tự giác và độc lập cũng phát triển thêm một
bước so với năm học trước. Ở các lớp 7 do tôi trực tiếp giảng dạy, nhiều em học sinh có
năng khiếu học môn Ngữ văn, khả năng thuyết trình, thực hành tốt....đó là điều kiện
thuận lợi để thực hiện các hoạt động thực hành đảm bảo theo yêu cầu của chương trình..
5
Bên cạnh đó, kết hợp với các bài kiểm tra thường xuyên và các giờ dạy đọc hiểu,
viết, nói và nghe, có thể nhận thấy kĩ năng của các em khá tốt. Bởi vậy, giáo viên có thể
áp dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tăng hoạt động thực hành ở
nhiều phương diện, từ khâu chuẩn bị bài ở nhà đến các hoạt động tại lớp học, trong khi
hoạt động nhóm hoặc hoạt động cá nhân. Việc làm này sẽ góp phần thay đổi tình trạng
dạy học nặng về thuyết giảng, đọc chép ... trong môn Ngữ văn và giúp học sinh phát triển
tư duy, cảm xúc, tăng vốn sống và năng lực ngôn ngữ để làm công cụ học tập cho tất cả
các môn học. Làm được như vậy, mỗi giáo viên đã góp phần thực hiện thành công mục
tiêu đổi mới GDĐT theo yêu cầu hiện nay.
4. Thực trạng
4.1 Ưu điểm
- Tôi đã có điều kiện công tác giảng dạy môn Ngữ văn ở trường THCS đã hơn 11 năm.
Khoảng thời gian ấy đã giúp tôi tích lũy được một số kinh nghiệm trong vấn đề nâng cao
chất lượng dạy học, trong đó có đề tài được trình bày trong sáng kiến kinh nghiệm này.
Bên cạnh đó, tôi được Ban giám hiệu, tổ chuyên môn và đội ngũ giáo viên giàu kinh
nghiệm của nhà trường luôn quan tâm, giúp đỡ, tạo điều kiện để tôi yên tâm và tích cực
trong công tác giảng dạy.
- Thư viện trường có nhiều tài liệu chuyên môn phục vụ cho công tác giảng dạy.
- Các em học sinh xuất thân nguồn gốc thuần nông, có ý thức vươn lên trong học tập, có
nhiều thành tích cao đáng khen.
- Về chương trình Ngữ văn lớp 7: Tôi đã trải qua công tác giảng dạy chương trình lớp 7
cũ 5 năm và chương trình lớp 7 mới 2 năm nên có điều kiện để so sánh, đối chiếu việc
thực hiện phương pháp dạy học cũ và mới có hiệu quả khác nhau như thế nào. Từ thực tế
dạy học đó, tôi đã đúc rút được một số kinh nghiệm để thay đổi bản thân, thay đổi
phương pháp dạy học để đáp ứng với yêu cầu hiện nay.
4.2 Nhược điểm
Bên cạnh đó, tôi vẫn còn gặp không ít khó khăn trong quá trình giảng dạy môn
Ngữ văn:
- Bản thân còn đang loay hoay trong việc làm quen, tiếp cận với đối tượng học
sinh của mình để phân loại và tìm ra những phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực
- Về phía học sinh có vài em chưa quan tâm đến môn học, chưa rèn luyện được tư
duy phản biện cho bản thân, kĩ năng nói và thuyết trình chưa tốt.
5. Mô tả sáng kiến
5.1 Về nội dung của sáng kiến
5.1.1. Tăng hoạt động thực hành tự học
Đối với học sinh, tự học là tự bản thân các em chủ động tìm tòi, lĩnh hội kiến thức
bằng nhiều con đường khác nhau. Tự học giúp các em chủ động nắm bắt nội dung, ý
6
nghĩa của bài học, vận dụng được các kiến thức từ bài học vào thực tiễn. Tự học cũng là
hoạt động thực hành các nội dung được giáo viên giao cho khi về nhà. Trong môn Ngữ
văn, có nhiều bài học cần sự chuẩn bị trước thì việc tìm hiểu bài trên lớp mới đảm bảo
mục tiêu phát triển năng lực học sinh nên hoạt động tự học của học sinh vô cùng quan
trọng. Để học sinh có thể thực hiện tốt việc tự học, giáo viên không giao nhiệm vụ một
cách chung chung (Với cách thực hiện ở chương trình cũ, giáo viên thường dặn dò học
sinh: Về nhà các em đọc và trả lời câu hỏi số...trong sách giáo khoa v.v...). Hiện nay,
việc hướng dẫn học bài ở nhà phải đươc cụ thể hóa bằng cách định hướng thông qua các
phiếu học tập với những nhiệm vụ cụ thể, rõ ràng. Giáo viên sẽ gửi phiếu học tập đó lên
nhóm zalo hoặc phần mềm Padlet để định hướng các nội dung học sinh cần tự học và học
sinh chủ động tìm hiểu kiến thức trước khi đến lớp. Khi đó, các hoạt động giao nhiệm vụ
cho học sinh trên lớp sẽ tiết kiệm được thời gian và đảm bảo được chất lượng của hoạt
động tìm hiểu kiến thức trong bài học. Thực hành tốt nhiệm vụ tự học theo các phiếu tự
học sẽ giúp cho học sinh hình thành ý thức học tập chủ động, năng lực của học sinh sẽ
được bộc lộ đầy đủ hơn so với trước đây. Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ 4.0,
chuẩn bị cho hoạt động tự học trở nên dễ dàng. Giáo viên có thể thiết kế phiếu tự học để
giao nhiệm vụ cho học sinh một cách nhanh chóng, thuận tiện hơn rất nhiều. Thông qua
các phần mềm, như canva hay AI, phiếu học tập được trình bày đẹp mắt, sinh động, gây
hứng thú cho học sinh. Phiếu sẽ được gửi lên Zalo hoặc Padlet để học sinh tải về (Nếu sử
dụng Padlet mọi thao tác sẽ thuận lợi hơn Zalo rất nhiều, bài đăng của học sinh sẽ không
bị trôi như tin nhắn trên Zalo. Sau khi học sinh thực hiện xong bài làm sẽ được chuyển
vào Padlet, giáo viên vào Padlet kiểm tra bài, xem việc chuẩn bị bài của học sinh đã nắm
được kiến thức nào và kiến thức nào cần được giáo viên củng cố, hỗ trợ thêm). Đối với
học sinh, các em thích thú với viêc giao bài online vì sẽ thường xuyên được tiếp cận với
công nghệ thông tin trong học tập. Bên cạnh đó, phiếu hướng dẫn tự học cũng có thể
dùng để gửi cho phụ huynh để phụ huynh nhắc nhở, giám sát con việc hoàn thành nhiệm
vụ học tập giáo viên giao cho. Việc hướng dẫn tự học tập bằng các phiếu tự học giúp học
sinh làm quen với việc học tập trong xã hội hiện đại. Sau nhiều lần được thực hành, học
sinh có kĩ năng chuẩn bị bài và hình thành năng lực học tập chủ động cho bản thân.
Một trong những phương pháp giao nhiệm vụ tự học thông qua phiếu học tập online
như vừa trình bày ở trên có thể sử dụng kĩ thuật KWL rất phù hợp. Đây là dạng phiếu
học tập sử dụng kĩ thuật dạy học hiện đại do Donna Ogle giới thiệu năm 1986. Ban đầu,
kĩ thuật dạy học này vốn là một hình thức tổ chức dạy đọc hiểu. Vì vậy, phiếu KWL rất
phù hợp với việc tự thực hành đọc hiểu ở nhà. Để thực hiện kĩ thuật này, giáo viên thiết
kế một phiếu học tập với tên gọi là “Phiếu KWL”. Phiếu này dành cho học sinh tự học
gồm 3 có cột. Trong đó cột K ( know- biết) học sinh nêu điều em đã biết về đơn vị kiến
thức của bài học học đó. Để có thể ghi chép được điều em đã biết tại cột (K), học sinh
phải đọc văn bản để nắm được kiến thức của bài. Giáo viên cũng có thể gợi ý cho học
sinh bằng những câu hỏi cụ thể ghi sẵn trong phiếu. Tiếp đó, tại cột W (want - muốn) học sinh nêu điều em muốn biết về về đơn vị kiến thức của bài học học đó. Muốn vậy,
học sinh phải tư duy, động não nghiên cứu vấn đề. Riêng cột L (Learn - học) học sinh
7
nêu điều em học được sau khi học xong bài học/đơn vị kiến thức trong bài. Như vậy, sử
dụng phiếu KWL là kĩ thuật dạy học phát huy tốt nhất tính tích cực, chủ động của học
sinh trong vấn đề tự học. Đồng thời, kĩ thuật dạy học KWL cũng rất phù hợp với cách tổ
chức dạy học theo mô hình “Lớp học đảo ngược” - Đây là một trong những mô hình dạy
học tích cực và hiện đại đang được khuyến khích vận dụng trong các nhà trường hiện
nay. Bởi vì, phiếu học tập này khai thác được kiến thức có sẵn hoặc kiến thức học sinh
chủ động tìm hiểu về chủ đề gắn với bài học. Đồng thời, phiếu KWL cũng định hình rõ
mục tiêu cho hoạt động tìm hiểu nội dung bài học và tạo cơ hội cho học sinh diễn tả ý
tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài học.
Trong thực tế, phiếu KWL có thể vận dụng đối với tất cả các bài dạy đọc hiểu văn
bản hay thực hành tiếng Việt hay dạy viết, dạy nói và nghe. Đối với phần đọc hiểu văn
bản, sử dụng phiếu KWL là cách tăng cường hoạt động thực hành đọc hiểu cho học sinh
ở nhà trước khi đến lớp đến lớp. Khi sử dụng phiếu tự học KWL, phiếu phù hợp với
những văn bản có phạm vi kiến thức rộng, và những văn bản cần huy động kiến thức thực
tế của học sinh (Chẳng hạn như văn bản thông tin : Ca Huế, Hội thi thổi cơm, Những nét
đặc sắc trên đất vật Bắc Giang,...trong bộ sách Ngữ văn 7 tập 1 bộ Cánh diều). Đối với
dạy thực hành tiếng Việt, cột (K) luôn là kiến thức về phần tri thức tiếng Việt. Với cách
dạy thực hành tiếng Việt hiện nay, phần lí thuyết giáo viên chỉ dành ít phút để giới thiệu
cho học sinh nên học sinh tự học được là hình thức tốt nhất để tăng hoạt động thực hành
vận dụng kiến thức được nhiều hơn. Cột (W) dành cho dạy học phân hóa đối tượng học
sinh (Ví dụ : Em muốn biết phân biệt biện pháp tu từ ẩn dụ với hoán dụ?). Do đó, không
bắt buộc hay định lượng nội dung phải hoàn thành cột (W); và cột (L) dành cho kiến thức
tiếng Việt được vận dụng vào thực tế mà học sinh tự rút ra trong quá trình vận dụng.
Tương tự như vậy, giờ học về kĩ năng viết, cột (K) học sinh sẽ chủ động tìm hiểu lí
thuyết kiểu bài, cột (W) học sinh đặt câu hỏi về kĩ năng tạo lập văn bản (Ví dụ : Cách nêu
bằng chứng trong văn nghị luận...). Còn lại cột (L) dành cho việc dạy học phân hóa đối
tượng học sinh, không bắt buộc học sinh phải hoàn thành. Như vậy, kĩ thuật KWL sẽ
được vận dụng linh hoạt theo từng bài, từng kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh. Đây
cũng là kĩ thuật dạy học rất phù hợp với các tiết dạy học theo dự án.
Minh họa: Phiếu học tập KWL hướng dẫn học sinh tự học ở nhà chuẩn bị cho tiết đọc
hiểu văn bản “Ca Huế”
8
Minh họa: Phiếu học tập KWL hướng dẫn học sinh tự học ở nhà chuẩn bị cho tiết
thực hành tiếng Việt
Bằng các phiếu KWL để hướng dẫn học sinh tự học, giáo viên giúp cho việc tìm
hiểu bài trở nên có định hướng, nội dung tìm hiểu vừa sát với các thông tin trong bài học,
vừa giới hạn được dung lượng kiến thức cần tìm hiểu cho phù hợp với thời gian học sinh
9
sẽ báo cáo các nội dung tự học trên lớp, vừa gợi mở được những tìm tòi, sáng tạo của
học sinh trước và sau khi tự học.
Nếu không có hoạt động tìm hiểu trước, học sinh có thể không quan tâm đến kiến
thức trong bài học, và việc tiếp nhận kiến thức sẽ chỉ giới hạn trong sách giáo khoa. Cách
tiếp nhận ấy lại quay về với phương pháp dạy học truyền thống trước đây. Vì vậy, có thể
nói phiếu KWL rất thuận tiện trong khi giáo viên sử dụng phương pháp giao nhiệm vụ tự
học cho học sinh. Và đây là một trong những phương pháp dạy học sinh thực hành tìm
kiếm thông tin phù hợp với giáo dục hiện đại.
Phiếu KWL có thể giao cho cá nhân hoặc nhóm thực hiện tùy theo cách bố trí của
giáo viên. Giáo viên cần nghiên cứu kĩ bài dạy để yêu cầu sử dụng phiếu KWL hợp lí và
hiệu quả, tránh lạm dụng kĩ thuật này làm cho việc tự học của học sinh trở nên áp lực.
Ngoài phiếu KWL, giáo viên có thể thiết kế các mẫu phiếu hướng dẫn tự học khác
với các nội dung vừa sức học sinh, hình ảnh, màu sắc đẹp để tạo hứng thú cho học sinh
khi tiếp nhận phiếu.
5.1.2.Tăng hoạt động thực hành chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ học tập được giao
Sau khâu học sinh tự chuẩn bị các nội dung theo phiếu tự học và theo hướng dẫn
của giáo viên, giáo viên cần cho học sinh được thể hiện phần nội dung tự học bằng cách
tổ chức các hoạt động chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ tự học được giao bằng những hình thức
phù hợp. Thông qua việc chia sẻ và báo cáo các nội dung tự học, học sinh được kiểm tra,
đánh giá, được học hỏi bạn bè và rút kinh nghiệm cho bản thân. Đây chính là mục đích
cuối cùng của dạy học phát triển năng lực học sinh và cho học sinh thực hành rèn luyện
nhiều kĩ năng khác nhau như kĩ năng thuyết trình, là việc nhóm, bày tỏ ý kiến cá nhân
v.v…Trong quá trình thực hành các hoạt động này, giáo viên chỉ là người tổ chức các
hoạt động học tập, hướng dẫn và kiểm tra, đánh giá học sinh nên giáo viên cần vận dụng
các kĩ thuật và phương pháp dạy học tích cực hiện đại để học sinh hào hứng học tập và
được phát huy khả năng của mình.
Sau đây là một số cách tổ chức hoạt động theo các kĩ thuật dạy học tích cực để
tăng hoạt động thực hành chia sẻ, báo cáo nhiệm vụ học tập được giao của học sinh trên
lớp:
5.1.2.1. Kĩ thuật trạm:
Dạy học bằng kĩ thuật trạm là việc giáo viên tổ chức cho học sinh chia sẻ các
nhiệm vụ học tập một cách chủ động, tự lực ngay trong không gian của lớp học để giải
quyết các nhiệm vụ trong giờ học. Kĩ thuật dạy học theo trạm phù hợp với bài dạy có ít
nhất từ hai nội dung độc lập nhau. Đây cũng là kĩ thuật dạy học tích cực mới mẻ kết hợp
từ hai kĩ thuật khác: Kĩ thuật nhóm và kĩ thuật mảnh ghép. Nếu giờ học thực hiện kĩ thuật
nhóm thì các thành viên mỗi nhóm hoạt động độc lập. Nhưng khi kết hợp kĩ thuật nhóm
và kĩ thuật mảnh ghép, học sinh được thực hành chia sẻ kiến thức hoặc nghe chia sẻ kiến
thức nhiều lần từ các thành viên khác nhau. Vì vậy mà quá trình tiếp thu kiến thức cũng
trở nên sinh động hơn, gây chú ý cho học sinh nhiều hơn. Học sinh sẽ được thực hành
10
chia sẻ nhiều hơn trong một giờ học chứ không phải là báo cáo sản phẩm của hoạt động
nhóm thông thường.
Cách tức tổ chức dạy học theo trạm như sau:
* Bước 1: Giáo viên chia nhóm học sinh.
- Mỗi nhóm được gọi là một trạm học tập. Các thành viên trong nhóm được gọi là
“chuyên gia” (nhóm “chuyên gia”).
- Mỗi trạm thực hiện một nhiệm vụ học tập mà giáo viên giao theo nội dung bài
học. (Các nhiệm vụ học tập được đánh theo số thứ tự A,B,C,D...Các thành viên có thể
đánh số thứ tự hoặc dùng thẻ màu để học sinh không bị nhầm lẫn).
Hình ảnh minh họa:
* Bước 2: Giáo viên cho học sinh chuyển nhóm tạo thành nhóm mới.
- Nhóm này được gọi là nhóm các mảnh ghép
- Sau khi các nhóm chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ, các nhóm mảnh ghép sẽ
được hình thành bằng cách di chuyển số thành viên trong nhóm chuyên gia theo sơ đồ
hướng dẫn của giáo viên như sau :
11
- Mỗi nhóm mảnh ghép sẽ bao gồm những thành viên đến từ các nhóm chuyên
gia ban đầu và tạo thành nhóm mới, nhận nhiệm vụ mới. Các chuyên gia của nhóm giảng
nội dung nhóm mình tại trạm mới, các thành viên khác nghe và tiếp thu kiến thức. Bài
học có bao nhiêu đơn vị kiến thức thì học sinh có bấy nhiêu vòng chia sẻ kiến thức cho
nhau để hoàn thành bài học.
- Kết thúc thời gian, các chuyên gia di chuyển trạm học tập theo hướng dẫn của
giáo viên để về các trạm học tập ban đầu, thực hiện báo cáo các nhiệm vụ giáo viên đã
giao.
* Bước 3: Giáo viên kiểm tra, tổng kết hoạt động, cho học sinh thuyết trình
các nội dung vừa học tập qua các trạm
Giáo viên có thể gọi bất kì thành viên nào trong nhóm để báo cáo nội dung vừa
được học tập qua các trạm.
Như vậy, thực hiện dạy học theo kĩ thuật trạm, giáo viên chỉ cần chia trạm, giao
nhiệm vụ học tập, cung cấp tài liệu học tập, theo dõi hoạt động của học sinh, nhận ra
những điều cần trợ giúp đúng lúc, đúng đối tượng.
Theo một số nghiên cứu khoa học, dạy học bằng kĩ thuật này sẽ giúp học sinh có
được khả năng ghi nhớ kiến thức tốt nhất. Về khả năng ghi nhớ của con người, chúng ta
sẽ có thể ghi nhớ được khoảng từ 5% đến 10% thông tin kiến thức khi nghe, đọc; ghi nhớ
được khoảng 50% thông tin kiến thức khi thảo luận cùng nhau và ghi nhớ được khoảng
từ 85% đến 90% thông tin kiến thức khi hoạt động và giảng giải cho người khác. Điều đó
rất đúng với đặc trưng của kỹ thuật dạy học này. Cũng như khi sử dụng các phương pháp,
12
kĩ thuật dạy học tích cực khác, việc sử dụng kĩ thuật dạy học theo trạm trong dạy học sẽ
tạo không khí học tập thoải mái, sinh động nhưng vẫn hiệu quả. Người học sẽ được tạo
cơ hội để giao tiếp, thể hiện quan điểm riêng. Đồng thời, dạy học sử dụng kĩ thuật theo
trạm sẽ giúp cho học sinh phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực
hành động, năng lực hợp tác làm việc của học sinh, đặc biệt được thực hành kĩ năng
thuyết trình cho tất cả học sinh trong lớp và từ đó sẽ rèn luyện sự tự tin cho các em.
Minh họa 1: Sử dụng kĩ thuật trạm khi dạy đọc Thực hành tiếng Việt ( Các biện
pháp tu từ: tương phản, so sánh, câu hỏi tu từ - Bài 2)
Bài học cần thực hành 3 đơn vị kiến thức vè 3 biện pháp tu từ: Tương phản, so
sánh, câu hỏi tu từ. Để tăng hoạt động thực hành tự tìm hiểu và chia sẻ kiến thức của học
sinh, giáo viên tổ chức hoạt động theo kĩ thuật trạm kết hợp với mảnh ghép như sau:
Nhiệm vụ chung: Nêu các bước làm bài tập phát hiện biện pháp tu từ và nêu tác
dụng của biện pháp tu từ.
Nhiệm vụ riêng cho từng trạm như sau: Chia lớp làm 3 trạm
- Trạm 1 - giải bài tập 1.
- Trạm 2 - Giải bài tập 2.
- Trạm 3 - giải bài tập 4.
Sau thời gian 8 phút, các nhóm chuyên gia hoàn thành nhiệm vụ chung và nhiệm
vụ riêng cuả từng nhóm.
Tiếp đó, các nhóm mảnh ghép sẽ được hình thành bằng cách di chuyển các thành
viên vòng tròn theo sơ đồ hướng dẫn của giáo viên để tạo thành nhóm mới. Các chuyên
gia giảng nội dung của nhóm mình. Thời gian trình bày tại vòng 2 và vòng 3, mỗi vòng 5
phút. Như vậy, sau 18 phút (Chưa tính thời gian di chuyển) các nhóm sẽ hoàn thành đủ 3
nội dung, 3 bài tập trong sách giáo khoa và trở về trạm học tập ban đầu để trình bày trước
lớp theo yêu cầu của giáo viên. Cuối cùng giáo viên chữa bài, củng cố kiến thức.
Riêng bài tập 4 trong sách giáo khoa của bài này cho hoạt động cá nhân.
Minh họa 2: Sử dụng kĩ thuật trạm khi dạy đọc đọc hiểu “Tục ngữ về thiên nhiên,
lao động và con người, xã hội” (Văn bản 2- Bài 6):
Văn bản gồm có 8 câu tục ngữ được chia làm 2 hai nhóm: Nhóm 1- Tục ngữ về
thiên nhiên và lao động; nhóm 2- Tục ngữ về con người và xã hội. Khi thực hiện bài dạy
bằng kĩ thuật trạm, giáo viên có thể tổ chức lớp học làm 2 trạm học tập tương ứng với 2
đơn vị kiến thức vừa kể trên (hoặc 4 trạm học tập thì 2 trạm sẽ chung một nhiệm vụ, nếu
6 trạm thì 3 trạm chung một nhiệm vụ). Yêu cầu chung cho các trạm là: Tìm hiểu đặc
điểm hình thức của những câu tục ngữ, tìm hiểu nội dung các câu tục ngữ, chỉ ra các
trường hợp có thể vận dụng câu tục ngữ. Các nhóm tự lựa chọn hình thức trình bày sản
phẩm lên giấy A0.
Nhiệm vụ riêng cho từng trạm như sau: Trạm 1 - Tìm hiểu các câu tục ngữ số
13
1,2,3,4. Trạm 2 - Tìm hiểu các câu tự ngữ số 5,6,7,8. Thời gian cho mỗi nhóm là 7-10
phút, tùy theo năng lực của học sinh ở từng lớp. Như vậy, khi học sinh 2 nhóm hoàn
nhiệm vụ được giao ban đầu là lớp có 2 nhóm chuyên gia ở vòng 1.
Tiếp đó, tại vòng 2, các nhóm mảnh ghép sẽ được hình thành bằng cách di chuyển
thành viên theo sơ đồ và tiếp tục thực hiện nhiệm vụ chia sẻ:
Sau khi hoàn thành đủ hai nội dung về hai nhóm tục ngữ, học sinh về các trạm học
tập ban đầu. Cuối cùng giáo viên cho học sinh thuyết trình các nội dung vừa học tập qua
các trạm. Bất kì thành viên nào cũng có thể trình bày được một trong các nội dung mà
giáo viên yêu cầu bởi các em đã được nghe bạn mình trình bày. Và giáo viên cho các học
sinh khác nhận xét, đánh giá phần trình bày của học sinh đó và kết luận vấn đề.
Khi thực hiện những kĩ thuật dạy học trên, học sinh lớp 7 trường TH&THCS Ninh
Đông thực hiện khá tốt. Các em nắm bắt nhanh phương pháp thực hiện và tích cực học
tập, chia sẻ kiến thức. Vì vậy, giờ học sôi nổi, học sinh tích cực, chủ động. Giáo viên
không cần thuyết trình nhiều như trước.
14
Đối với những bài học chứa các đơn vị kiến thức riêng, như bài Tục ngữ về thiên
nhiên, lao động và con người xã hội hay bài Thực hành tiếng Việt (Biện pháp tu từ nói
quá, so sánh, câu hỏi tu từ). Nếu hoạt động cá nhân hay hoạt động nhóm thông thường,
học sinh sẽ thấy nhàm chán bởi các câu hỏi đặt ra cho mỗi kiến thức đều như nhau.
Chẳng hạn: Tìm hiểu đặc điểm hình thức của những câu tục ngữ, tìm hiểu nội dung các
câu tục ngữ, chỉ ra các trường hợp có thể vận dụng câu tục ngữ ở cả hai nhóm. Hoặc chỉ
ra và nêu tác dụng của ba biện pháp tu từ trong 4 bài tập (Câu hỏi lặp lại ở cả 4 bài tập).
Do đó, tổ chức dạy học với phương pháp và kĩ thuật như vừa trình bày ở trên sẽ làm cho
học sinh hào hứng hơn và được thực hành chia sẻ kiến thức nhiều hơn. Vì vậy, kĩ thuật
dạy học theo trạm là kĩ thuật phù hợp để vận dụng vào các đơn vị bài học có nhiều kiến
thức mang tính độc lập nhau.
Trong chương trình Ngữ văn lớp 7 (Bộ sách “Cánh diều”) có một số bài học có thể
áp dụng kĩ thuật dạy học theo trạm như : Thực hành tiếng Việt về số từ, phó từ (Bài 3Hai đơn vị k...
 






Các ý kiến mới nhất