Chào mừng quý vị đến với kho học liệu điện tử của Trường tiểu học và trung học cơ sở Ninh Đông
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
sáng kiến

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: ĐỔ THỊ KIM PHƯỢNG
Ngày gửi: 18h:46' 01-12-2025
Dung lượng: 256.0 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: ĐỔ THỊ KIM PHƯỢNG
Ngày gửi: 18h:46' 01-12-2025
Dung lượng: 256.0 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Đổ Thị Kim Phượng
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 01/02/1989
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Tiểu học
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.”
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
2.2. Mục tiêu: Nhằm nâng cao kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 tại trường
Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho
học sinh lớp 1 tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.
b. Phạm vi nghiên cứu: Giáo viên và học sinh khối lớp 1 trường Tiểu học
Ninh Đông
3. Cơ sở pháp lý:
Như chúng ta được biết mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ
thông môn ngữ văn theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12
năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ở bậc tiểu học được quy định
cụ thể như sau:
a) Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với
các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội
nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học
tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý
thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường
xung quanh.
b) Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng
lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc
2
đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên
hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu,
đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý
kiến người nói.
Để đạt được mục tiêu ấy, việc học tiếng nói chung và việc rèn kĩ năng nói
nói riêng ở học sinh lớp 1 cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử dụng
ngôn ngữ của trẻ để tiếp tục phát huy năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy bằng
ngôn ngữ nói của trẻ em. Thông qua hoạt động nói các em sẽ phát huy được vốn
ngôn ngữ Tiếng Việt, nói đúng cấu trúc ngữ pháp, mở rộng thêm vốn từ, làm cơ
sở cho việc tiếp thu tri thức sau này. Cũng nhằm hình thành thói quen, ý thức
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hoàn thiện nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì ngoài việc cung cấp cho học sinh hệ
thống câu từ, lời nói còn rèn luyện cho các em tính cẩn thận, sự tự tin trước đám
đông, trách nhiệm với bản thân và tôn trọng người tham gia giao tiếp.
Thế nhưng trong thực tế hiện nay tình trạng học sinh nói không đủ ý, ngôn
ngữ diễn đạt còn lộn xộn, chưa lôgic. Nhiều học sinh nhút nhát không muốn
trình bày, chia sẻ với các bạn những điều mình nghĩ, mình biết hoặc có nói thì
cũng nói trống không, không rõ nghĩa. Thậm chí có một số em đã học đến trung
học cơ sở mà trước lớp học sinh diễn đạt vẫn chưa trôi chảy. Đây là vấn đề
nhiều giáo viên gặp khó khăn khi giảng dạy và chưa hài lòng về học sinh của
mình.
Do đó trong quá trình dạy học luyện nói, rèn kĩ năng nói, lý thuyết giao
tiếp giúp giáo viên có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm
đạt được mục tiêu dạy học đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân
học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành
những tình huống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của
mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất
nhiên sẽ phát triển được lời nói cho các em. Thấy được những điều ấy, tôi đã tìm
tòi và rút ra được “ Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.” Với hi vọng góp phần nhỏ bé
vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cũng như giáo dục toàn diện cho
học sinh.
4. Thực trạng:
a.Ưu điểm:
* Về phía giáo viên:
3
Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo và chuyên môn. Tổ
chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho
học sinh tiểu học vv... cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi,
giảng dạy.
Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường: tổ chức thao giảng, dự
giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để
rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng
dạy.
Giáo viên trẻ luôn tìm tòi học hỏi để trao đổi kinh nghiệm, không ngừng
tự rèn luyện mình, từng bước nâng cao nghiệp vụ để vững vàng về chuyên môn
cũng như công việc phụ trách toàn diện trước học sinh. Luôn nhiệt tình và có
tâm huyết.
* Về phía học sinh:
Với học sinh lớp 1, 100% học sinh đều được học qua lớp 5 tuổi ở trường
Mầm non. Đa số các em còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học
tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng, vv....
Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ
huynh có ý thức trách nhiệm và tích cực phối hợp với giáo viên trong việc học
tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường
xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập
ở nhà.
Được sự quan tâm hướng dẫn, dìu dắt của nhà trường, tổng phụ trách đội,
giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm cùng cha mẹ học sinh trong mọi hoạt
động.
b. Nhược điểm
* Về phía giáo viên:
Đồ dùng dạy học dành cho phần luyện nói còn chưa phong phú, chưa phù
hợp chủ yếu dựa vào tranh trong sách giáo khoa. Giáo viên còn tự làm thêm đồ
dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư.
Việc thay sách giáo khoa mới, chuyển đổi phương pháp dạy học không
khỏi gây nhiều trở ngại cho giáo viên và cả học sinh.
Giáo viên chưa mạnh dạn áp dụng việc đổi mới phương pháp dạy và các
hình thức học tập phù hợp với học sinh địa bàn thuần nông.
* Về phía học sinh:
4
Các em còn lúng túng khi nói, nói vấp, chưa trọn câu, trọn ý, phát âm
chưa chuẩn, thậm chí không biết nói gì với các chủ đề luyện nói theo yêu cầu
bài học hoặc trong quá trình học tập, giao tiếp. Bên cạnh đó còn ngại giao tiếp,
rụt rè, không tập trung trong giờ luyện nói.
Còn một phần không ít phụ huynh không và chưa coi trọng việc rèn luyện
nói cho các em, chỉ chú trọng luyện đọc, luyện viết.
c. Nguyên nhân tồn tại của vấn đề
Một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp, chỉ
chú trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học Tiếng Việt thời lượng dành
cho hoạt động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học
sinh tham gia nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em
mạnh dạn, hay phát biểu mà thôi.
Học sinh chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực khi giáo viên nêu yêu
cầu đến lúc trình bày thường câu trả lời không đúng mục đích hoặc chưa hết ý.
Một số trường hợp chỉ trả lời một tiếng là “có” hoặc “không” chứ chưa giải
thích được theo ý mình là vì sao có, vì sao không ?. Học sinh còn ỷ lại hoặc nói
theo các bạn chứ chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời hay cho chính mình.
Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười khi nói
không đúng hoặc nói ngọng. Bên cạnh đó thì học sinh lớp 1 có thể nói môi
trường hoạt động lứa tuổi tiếp xúc với môi trường xã hội còn rất ít chỉ có thể tiếp
xúc với gia đình, nhà trường( chủ yếu là lớp học). Mặc khác các em lần đầu tiên
được học âm- vần, luyện nói thành câu, đoạn do đó vốn từ của học sinh còn rất ít
nên khả năng diễn đạt chưa được trôi chảy. Thêm nữa học sinh lớp 1 chưa đi xa
nhiều, khả năng nhìn nhận quan sát sự vật, sự việc xung quanh còn rất hạn chế
dẫn đến khi luyện nói cũng gặp khó khăn về việc sử dụng từ ngữ.
5. Mô tả sáng kiến:
5.1.Về nội dung của sáng kiến:
Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm giúp giáo viên hướng dẫn các em có
khả năng nói và kĩ năng nói tốt nâng cao chất lượng học tập cho các em. Việc
rèn nói cho các em nói tốt, nói thành thạo, nói đúng, nói đủ ý câu giúp các em tự
tin khi giao tiếp và lĩnh hội được kiến thức bài giảng của giáo viên đầy đủ hơn,
dễ hiểu hơn, hiểu sâu hơn, lôi kéo tất cả mọi đối tượng học sinh vào bài học tốt
hơn, hiệu quả cho tiết dạy của giáo viên vẹn toàn như mong muốn.Với việc sử
dụng sách giáo khoa mới cho học sinh khối lớp 1 là một thách thức lớn cho cả
thầy và trò. Vì vậy, giáo viên phải là tiên phong đi đầu tìm hiểu và nắm chắc
phương pháp đổi mới của phân môn.Tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy
5
của bạn bè đồng nghiệp. Thường xuyên kiểm tra và phân loại đối tượng học
sinh.Tập trung nhiều vào đối tượng học sinh ngại giao tiếp, chưa mạnh dạn, còn
rụt rè.
Sáng kiến rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 cũng đã có rất nhiều người
nghiên cứu, áp dụng nhưng điểm mới của sáng kiến mà tôi đưa ra là: Nêu lên
được những giải pháp thiết thực nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ
thống về năng lực nói đúng, nói hay, nói chuẩn mực, nói có mục đích từ đó nâng
cao khả năng giao tiếp, hợp tác ở các em học sinh lớp 1. Qua đó góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt 1. Thông qua kĩ năng nói giúp các em
có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học khác, tạo động lực và thái độ tự
học, tự chiếm lĩnh tri thức.., góp phần hình thành nhân cách con người phát triển
toàn diện. Được thể hiện cụ thể qua 7 giải pháp sau:
Giải pháp 1: Xây dựng môi trường hoạt động thân thiện, tích cực.
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, giáo viên cần thiết lập tốt mối quan
hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên điều này là cơ sở
giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ học sau. Giáo
viên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng là cơ sở để
các em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ, tên,
tuổi, sở thích,…Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vậy
thì giáo viên đã góp phần nào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phát
biểu miệng. Hay lúc sinh hoạt đầu tuần, cuối tuần ngoài việc trao đổi với nhau
vấn đề học tập, giáo viên cũng nên dành ít thời gian nói chuyện với các em.
Chính lúc này các em mới cởi mở, thể hiện tâm tư, tình cảm, lời nói của mình.
Chắc chắn sẽ có em thể hiện câu nói đúng, trôi chảy, lưu loát, đủ câu … nhưng
cũng có em chưa nói lưu loát, vụng về trong câu nói của mình. Từ đó giáo viên
chỉnh sửa câu nói của các em cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói:
Không khí của giờ luyện nói nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho từng
em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài nói
của mình. Bởi nếu lớp học ồn ào hoặc người nghe không có thái độ tôn trọng
người nói, không có ý thức cộng tác hội thoại thì người nói sẽ không nói được,
các em sẽ khó diễn đạt khi phải nhìn trước ánh mắt nghiêm khắc của giáo viên
hoặc cái nhìn xét nét của bạn bè trong lớp. Giáo viên cần khuyến khích động
viên khích lệ các em để các em tự tin, phấn khởi khi tham gia nói. Để kích thích
học sinh, giáo viên nên đánh giá khen ngợi, khuyến khích bằng cách thưởng
hoa, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói tốt.
Giáo viên phải kích thích nhu cầu nói của học sinh bằng cách sử dụng
6
trực quan, tạo tình huống giao tiếp phù hợp, động viên học sinh tham gia tích
cực khi luyện nói. Giáo viên cần phải tạo ra những tình huống giả định, song
phải có tính chân thực, không gượng ép, khô cứng, phải gần gũi và có sức hấp
dẫn, lôi cuốn, kích thích nhu cầu cho các em khi đã hoà mình vào tình huống,
nhập được vai giao tiếp thì lúc ấy các em sẽ thực sự thể hiện hết mình điều
muốn nói. Nhu cầu giao tiếp rất đa dạng như: nhu cầu muốn bộc lộ sự hiểu biết,
muốn thể hiện kết quả học tập, rèn luyện, nhu cầu muốn tranh luận, bàn bạc với
bạn bè một vấn đề gì đó… Tất cả những nhu cầu đó đều là động lực kích thích
các em nói trong lúc luyện nói. Vì thế giáo viên cần quan tâm tìm hiểu nhu cầu
nói của học sinh để có những biện pháp kích thích nhu cầu đó, tạo húng thú học
tập, từ đó góp phần quan trọng làm tăng hiệu quả dạy học luyện nói, phát triển
kĩ năng nói của các em.
Giải pháp 2: Rèn kỹ năng nói theo từng bước cụ thể và áp dụng
thường xuyên vào tiết luyện nói trong giờ học Tiếng Việt.
Bước 1: Nắm vững mục tiêu và kỹ năng tiết dạy
Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy, chúng ta phải hiểu rằng
đây là tiết giúp học sinh “Luyện nói” thì học sinh phải được nói. Phải thực sự
luyện trên lớp cho từng em được nói. Ngoài ra cần phải xác định và nắm rõ mục
tiêu chính của chủ đề cần luyện nói. Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần
luyện nói, gợi ý sao cho tất cả học sinh đều được nói, không đi quá xa chủ đề.
Tùy tình hình thực tế và khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp và
hình thức dạy luyện nói phù hợp với đối tượng. Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi
gợi ý cho từng bài thật kĩ. Đồng thời giáo viên hướng cho học sinh đi đúng yêu
cầu, nói chứ không phải là đọc. Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ nói thể
hiện rõ nhất là ngữ điệu trong sử dụng thành văn. Ngoài ra, các em còn biết thể
hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc thái tình cảm, thái độ khi trình bày.
Bước 2: Hướng dẫn việc chuẩn bị bài ở nhà cho học sinh
Muốn một giờ luyện nói đạt kết quả tốt, ngoài việc hướng dẫn học sinh đi
đúng yêu cầu của một giờ luyện tập trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị bài ở
nhà cũng rất quan trọng. Muốn các em chuẩn bị bài tốt, có chất lượng thì sự
chuẩn bị, hướng dẫn của giáo viên cũng phải chu đáo. Trong sách giáo khoa
thường có chủ đề luyện nói ở mỗi bài học. Vì thế tùy theo chủ đề khó hay dễ
mà giáo viên hướng dẫn các em chuẩn bị sao cho phù hợp, để có hiệu quả cao
đối với từng đối tượng học sinh của mình để dạy theo ý chủ quan của giáo viên.
Khi đã phân loại phù hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối tượng
học sinh (có thể phân theo dãy bàn, theo tổ, theo nhóm hay cá nhân) để học sinh
chuẩn bị kĩ lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại khái.
7
Ví dụ: Trong tiết luyện nói với chủ đề “Xin lỗi” ở sách giáo khoa Tiếng
Việt 1( tập 1) bài 36 trang 85. Giáo viên xác định đây là chủ đề không quá khó
với các em lớp 1. Vì thế trước tiên giáo viên sẽ tạo ra một hệ thống câu hỏi khái
quát về nội dung chủ đề để giao việc cho học sinh. Cụ thể nội dung câu hỏi như
sau:
Câu 1: Ở nhà, các em có hay làm ba mẹ buồn lòng hay không?
Câu 2: Các em làm buồn lòng ba mẹ ở những việc gì?
Câu 3: Khi con làm ba mẹ buồn lòng, thì con đã làm gì?
Câu 4: Thái độ, cử chỉ của các em khi xin lỗi bố mẹ thế nào?
Với hệ thống 4 câu hỏi như trên, tôi sẽ giao nhiệm vụ cho 4 nhóm, mỗi
nhóm tương ứng với một câu hỏi. Khuyến khích các em học tốt chuẩn bị cả bốn
câu. Khi dạy tiết này giáo viên có thể cho học sinh xung phong trình bày các vấn
đề hoặc có thể gọi các đối tượng học sinh trình bày. Đặc biệt quan tâm đến học
sinh chậm, chưa mạnh dạn tự tin. Giáo viên căn cứ vào bài nói của học sinh để
rút kinh nghiệm cho các em lần sau nói tốt hơn lần trước.
* Bước 3: Hướng dẫn học sinh nêu được tên chủ đề
Trong chương trình sách giáo khoa mới ở môn Tiếng Việt 1, chúng ta
thấy nội dung luyện nói được xây dựng dựa trên các chủ đề gần gũi với các em
bằng tranh ảnh minh họa đa dạng, đặc sắc. Chính vì vậy, muốn dạy luyện nói có
hiệu quả thì hoạt động đầu tiên giáo viên cần tiến hành tổ chức cho học sinh nêu
được tên chủ đề bằng cách sử dụng tranh ảnh đẹp hay các đoạn video, chứa nội
dung cần luyện nói để tạo tính tò mò muốn khám phá nhằm gây hứng thú và tập
trung cho học sinh. Tiếp theo là cần rèn phát âm đúng, chính xác để giúp cho
học sinh nói rõ ràng hơn dẫn đến nói liền mạch, lưu loát đúng tên chủ đề. Từ đó
học sinh khắc phục được những lỗi sai khi phát âm. Ví dụ: Các chủ đề: Loài
chim, say mê, giúp bạn, muôn hoa khoe sắc... Học sinh phát âm chưa đúng chưa
chuẩn bởi học sinh còn nói tiếng địa phương vì vậy giáo viên chúng ta phải sửa
các lỗi về phát như: loài-lòi, say-xay, giúp-dúp, khoe-phe…
* Bước 4: Hướng dẫn học sinh thực hành luyện nói trong nhóm.
Từ các nhóm đã phân chia ngay từ đầu năm học nhóm hai hay nhóm bốn
tùy theo chủ đề luyện nói, giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh, chỉ đạo
nhóm trưởng tự phân công và kiểm tra việc luyện nói của bạn trong nhóm sau đó
cả nhóm cùng thảo luận, góp ý, dưới sự quan sát giúp đỡ của giáo viên bằng các
câu hỏi gợi mở. Để giúp cho những em lười hay học chậm không có cơ hội nói
nhiều, giáo viên cần quan tâm sâu sát hơn đến đối tượng học sinh này để mỗi em
sẽ được nói ít nhất 1 lần trong nhóm.
8
Tạo cho các em mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp, bằng những lời xưng hô
phù hợp với từng đối tượng. Giáo viên theo dõi, quan sát để kịp thời uốn nắn,
chữa từng tiếng, từng câu xoay quanh chủ đề đang nói.
Ví dụ: Chủ đề: xin lỗi, cảm ơn, vật nuôi yêu thích…Với các chủ đề này,
giúp các em biết nói lời xin lỗi khi có lỗi, biết chào hỏi, cám ơn, thích những
con vật nuôi… bằng những câu đơn giản làm cho người nghe dễ hiểu khi giao
tiếp trong cuộc sống.
* Bước 5: Tổ chức luyện nói trước lớp.
Sau khi các em luyện nói trong nhóm, giáo viên hướng dẫn các em cử đại
diện lên trình bày. Mời bạn nói tốt nói trước, tiếp đến khuyến khích các bạn
khác nói, đặc biệt giáo viên cần tạo cơ hội luyện nói cho các bạn còn rụt rè, nhút
nhát.
Bên cạnh đó giáo viên cũng chú ý rèn luyện hình thức và tác phong nói:
câu nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, tránh dùng từ ngữ địa phương.
Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói. Khi học sinh
đang nói, giáo viên không nên ngắt lời các em một cách tùy tiện (kể cả việc tiếp
lời các em không đúng lúc) sự đứt mạch trong suy nghĩ hoặc lời nói bị gián đoạn
sẽ làm các em lúng túng, nhiều khi các em không nói tiếp được nữa. Cho nên
giáo viên cần bình tĩnh, tôn trọng học sinh, đợi học sinh nói hết câu mới được
sửa chữa. Giáo viên cần giúp học sinh bình tĩnh, tự tin đồng thời phải chú ý đến
thái độ người nghe trong khi mình nói.
* Bước 6: Hướng dẫn học sinh nêu nhận xét.
Muốn có lời nhận xét đầy đủ chính xác trước tiên, giáo viên cần hướng
dẫn các em ngồi ngay ngắn chú ý lắng nghe phần trình bày của bạn. Yêu cầu các
em nhận xét cụ thể về một nội dung luyện nói, cử chỉ nói có tự nhiên, đã thành
câu hay chưa, hay rụt rè, chưa thành câu… Với học sinh còn chậm thì giáo viên
hướng dẫn các em khác nhận xét về mức độ tiến bộ của bạn nhằm giúp các bạn
đó tự tin và tiến bộ hơn.
* Bước 7: Giáo viên nhận xét, góp ý và giáo dục.
Sau khi các em nhận xét về nội dung nói của bạn mình, cách trình bày của
các nhóm, giáo viên đi đến tổng kết nhận xét chung. Nhận xét một cách cụ thể
cần khen ngợi, khuyến khích các em luyện nói tốt. Đồng thời chỉ ra những chi
tiết, những vấn đề mà các em chưa làm tốt, khuyến khích các em bổ sung sửa
chữa vào những bài luyện nói tiếp theo. Lòng ghép giáo dục kĩ năng, thái độ cho
học sinh.
9
Giải pháp 3: Tổ chức thường xuyên các hoạt động ngoại khóa, câu lạc
bộ năng khiếu ở trường .
Sinh hoạt sao là hoạt động tập thể có ý nghĩa quan trọng đối với các học
sinh nhất là học sinh lớp 1. Chính hoạt động sao đã giúp các em thấy mình
dường như lớn lên, trưởng thành hơn, các em được giao lưu, học hỏi với các bạn
khác trong trường, được hoạt động chung, được tham gia các phong trào, các
cuộc thi do đội tổ chức như: thi văn nghệ, thi chúng em là học sinh tiểu học.
Qua hoạt động sao rèn cho các em nhiều kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp
mới đó là giao tiếp với các anh chị phụ trách sao, các bạn trong lớp mình cũng
như các bạn lớp khác, tạo cho các em giao tiếp trong các mối quan hệ đa dạng
hơn.
Cụ thể, trong các buổi sinh hoạt sao hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm cũng
cần hướng dẫn các em phụ trách sao soạn sẵn nội dung sinh hoạt, sao cho các
câu hỏi, câu trả lời đầy đủ về ý, rõ lời, diễn đạt được nội dung cần giao tiếp được
lưu loát, bóng bẩy hơn để các em học hỏi. Tạo ra một số trò chơi tăng hứng thú
tham gia cho các em.
Ví dụ: Khi các anh chị phụ trách sao hướng dẫn thực hiện chủ đề “ Bạn bè
thân thiết” yêu cầu từng em kể một bạn trong lớp mình. Để tránh nhàm chán.
Phụ trách sao sẽ tổ chức trò chơi “ Bịt mắt tìm bạn”. Cụ thể luật chơi như sau:
Bịt mắt và ném quả cầu bông, bạn nào bắt được quả cầu bông thì người chơi sẽ
kể về bạn ấy theo một sô câu hỏi gợi ý sau: Người bạn mà em kể tên gì?, Tính
tình bạn ấy ra sao?, Bạn có chơi thân với em không?...vv. Phụ trách sao chú ý
hướng dẫn các em nói đủ ý, rõ ràng, lễ phép với sự giám sát của giáo viên chủ
nhiệm.
Hoạt động phong trào do nhà trường tổ chức là một trong những hoạt
động các em rất yêu thích nên các em nhanh nhớ và nhớ rất lâu. Giáo viên có thể
lồng ghép, hướng dẫn theo dõi, uốn nắn các em nói thuận lợi, mang lại hiệu quả
cao.
Ví dụ: Khi nhà trường tổ chức các cuộc thi như: “Đêm hội trăng rằm”, “
Làm thiệp tặng cô”, … hay các trò chơi dân gian. Các em có thể vì tranh thắng
thua mà có cách cư xử không tế nhị, lời nói không hay với bạn, … giáo viên cần
phân tích, chỉ ra những câu nói không hay, cách xưng hô đúng mực với bạn bè.
Bên cạnh đó, các hoạt động ngoại khóa và câu lạc bộ năng khiếu cũng có
ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kĩ năng nói của trẻ. Môi trường câu lạc bộ,
đội nhóm sẽ tạo điều kiện để trẻ hòa đồng hơn với các bạn cùng trang lứa. Bên
cạnh đó, đây cũng là cơ hội giúp học sinh bộc lộ hết tất cả năng khiếu, cá tính
10
của mình trong quá trình giao tiếp, ứng xử. Từ đó, các thầy cô có thể uốn nắn,
nhắc nhở và điều chỉnh kịp thời những hành vi chưa đúng, giáo dục cho trẻ về
văn hóa ứng xử phù hợp. Với sự đổi mới trong phương pháp giáo dục, ngày
càng có nhiều câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa được thành lập tại trường tiểu
học. Thấy được vai trò thiết thực như vậy nên cần tổ chức hoạt động thường
xuyên một số câu lạc bộ bổ ích như: Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh, cờ vua, cầu
lông, vẽ tranh, bóng đá, kể chuyện,… Đồng thới để khuyến khích các em tích
cực tham gia, giáo viên nên có phần thưởng động viên khích lệ kịp thời.
Sau quá trình rèn luyện thông qua các câu lạc bộ và hoạt động ngoại khóa,
tinh thần tập thể cũng như kỹ năng nói, ứng xử của trẻ sẽ được nâng cao đáng
kể.
Giải pháp 4: Rèn kĩ năng nói trong giao tiếp hằng ngày:
Hoạt động nói đã được hình thành trước khi vào lớp 1, nhưng để trở thành
kĩ năng thì phải được uốn nắn, rèn luyện cả quá trình giao tiếp với thầy cô, bạn
bè, người thân, mọi người xung quanh. Như tạo thói quen, kĩ năng nói trong
cách trả lời, xưng hô ứng xử, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi như thế nào
để tỏ thái độ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Ví dụ: Khi tiếp xúc với giáo viên:
Giáo viên hỏi: “ Em đã kiểm tra đồ dùng học tập của bạn chưa?”
Học sinh thường trả lời: “Kiểm tra rồi.”
Khi đó giáo viên phải chỉnh sửa ngay cho học sinh: “Em không được nói
trống không như thế mà phải nói thành câu trọn vẹn và thể hiện thái độ tôn trọng
thầy cô. Chẳng hạn: “Thưa cô, em đã kiểm tra rồi ạ!”. Hay các em hay tự ý ra
ngoài trong giờ học. Khi ấy giáo viên cần hướng dẫn cho cách biết nói lời
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐỀ CƯƠNG SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Đổ Thị Kim Phượng
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 01/02/1989
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Tiểu học
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.”
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Tiếng Việt
2.2. Mục tiêu: Nhằm nâng cao kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 tại trường
Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho
học sinh lớp 1 tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.
b. Phạm vi nghiên cứu: Giáo viên và học sinh khối lớp 1 trường Tiểu học
Ninh Đông
3. Cơ sở pháp lý:
Như chúng ta được biết mục tiêu chung của chương trình giáo dục phổ
thông môn ngữ văn theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12
năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ở bậc tiểu học được quy định
cụ thể như sau:
a) Giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với
các biểu hiện cụ thể: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội
nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học
tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý
thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường
xung quanh.
b) Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng
lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản: đọc
2
đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản; liên
hệ, so sánh ngoài văn bản; viết đúng chính tả, ngữ pháp; viết được một số câu,
đoạn, bài văn ngắn (chủ yếu là bài văn kể và tả); phát biểu rõ ràng; nghe hiểu ý
kiến người nói.
Để đạt được mục tiêu ấy, việc học tiếng nói chung và việc rèn kĩ năng nói
nói riêng ở học sinh lớp 1 cần dựa trên nền tảng vốn sống, kinh nghiệm sử dụng
ngôn ngữ của trẻ để tiếp tục phát huy năng lực ngôn ngữ, năng lực tư duy bằng
ngôn ngữ nói của trẻ em. Thông qua hoạt động nói các em sẽ phát huy được vốn
ngôn ngữ Tiếng Việt, nói đúng cấu trúc ngữ pháp, mở rộng thêm vốn từ, làm cơ
sở cho việc tiếp thu tri thức sau này. Cũng nhằm hình thành thói quen, ý thức
giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của tiếng Việt, góp phần hoàn thiện nhân cách
con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vì ngoài việc cung cấp cho học sinh hệ
thống câu từ, lời nói còn rèn luyện cho các em tính cẩn thận, sự tự tin trước đám
đông, trách nhiệm với bản thân và tôn trọng người tham gia giao tiếp.
Thế nhưng trong thực tế hiện nay tình trạng học sinh nói không đủ ý, ngôn
ngữ diễn đạt còn lộn xộn, chưa lôgic. Nhiều học sinh nhút nhát không muốn
trình bày, chia sẻ với các bạn những điều mình nghĩ, mình biết hoặc có nói thì
cũng nói trống không, không rõ nghĩa. Thậm chí có một số em đã học đến trung
học cơ sở mà trước lớp học sinh diễn đạt vẫn chưa trôi chảy. Đây là vấn đề
nhiều giáo viên gặp khó khăn khi giảng dạy và chưa hài lòng về học sinh của
mình.
Do đó trong quá trình dạy học luyện nói, rèn kĩ năng nói, lý thuyết giao
tiếp giúp giáo viên có sự định hướng về nội dung và phương pháp dạy học nhằm
đạt được mục tiêu dạy học đề ra. Đó là nhằm phát triển lời nói cho từng cá nhân
học sinh. Vì vậy, đòi hỏi giáo viên cần biết chuyển nội dung dạy học thành
những tình huống giao tiếp gần gũi, giúp học sinh vận dụng kinh nghiệm của
mình thực hiện hoạt động giao tiếp. Từ đó học sinh sẽ có kỹ năng giao tiếp và tất
nhiên sẽ phát triển được lời nói cho các em. Thấy được những điều ấy, tôi đã tìm
tòi và rút ra được “ Một số giải pháp tích cực rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1
tại trường Tiểu học Ninh Đông, Thị xã Ninh Hòa.” Với hi vọng góp phần nhỏ bé
vào việc nâng cao chất lượng môn Tiếng Việt cũng như giáo dục toàn diện cho
học sinh.
4. Thực trạng:
a.Ưu điểm:
* Về phía giáo viên:
3
Được sự quan tâm và chỉ đạo tốt của các cấp lãnh đạo và chuyên môn. Tổ
chức bồi dưỡng giáo viên, tổ chức những buổi học chuẩn kiến thức kỹ năng cho
học sinh tiểu học vv... cung cấp đủ tài liệu, phương tiện để nghiên cứu, học hỏi,
giảng dạy.
Được sự giúp đỡ của Ban Giám Hiệu nhà trường: tổ chức thao giảng, dự
giờ hàng tháng, tổ chức những buổi học chuyên đề thảo luận về chuyên môn để
rút ra những ý kiến hay, những đề xuất kinh nghiệm tốt áp dụng trong việc giảng
dạy.
Giáo viên trẻ luôn tìm tòi học hỏi để trao đổi kinh nghiệm, không ngừng
tự rèn luyện mình, từng bước nâng cao nghiệp vụ để vững vàng về chuyên môn
cũng như công việc phụ trách toàn diện trước học sinh. Luôn nhiệt tình và có
tâm huyết.
* Về phía học sinh:
Với học sinh lớp 1, 100% học sinh đều được học qua lớp 5 tuổi ở trường
Mầm non. Đa số các em còn rất ngoan, dễ vâng lời, nghe lời cô giáo, thích học
tập và thi đua với các bạn, dễ khích lệ động viên khen thưởng, vv....
Có được sự quan tâm về việc học tập của con em mình của một số phụ
huynh có ý thức trách nhiệm và tích cực phối hợp với giáo viên trong việc học
tập của con em mình như: Chuẩn bị đầy đủ sách vở, đồ dùng học tập,thường
xuyên nhắc nhở và tạo điều kiện tốt cho con em mình đến lớp cũng như học tập
ở nhà.
Được sự quan tâm hướng dẫn, dìu dắt của nhà trường, tổng phụ trách đội,
giáo viên bộ môn, giáo viên chủ nhiệm cùng cha mẹ học sinh trong mọi hoạt
động.
b. Nhược điểm
* Về phía giáo viên:
Đồ dùng dạy học dành cho phần luyện nói còn chưa phong phú, chưa phù
hợp chủ yếu dựa vào tranh trong sách giáo khoa. Giáo viên còn tự làm thêm đồ
dùng dạy học để tạo sinh động cho tiết dạy, nên còn mất thời gian đầu tư.
Việc thay sách giáo khoa mới, chuyển đổi phương pháp dạy học không
khỏi gây nhiều trở ngại cho giáo viên và cả học sinh.
Giáo viên chưa mạnh dạn áp dụng việc đổi mới phương pháp dạy và các
hình thức học tập phù hợp với học sinh địa bàn thuần nông.
* Về phía học sinh:
4
Các em còn lúng túng khi nói, nói vấp, chưa trọn câu, trọn ý, phát âm
chưa chuẩn, thậm chí không biết nói gì với các chủ đề luyện nói theo yêu cầu
bài học hoặc trong quá trình học tập, giao tiếp. Bên cạnh đó còn ngại giao tiếp,
rụt rè, không tập trung trong giờ luyện nói.
Còn một phần không ít phụ huynh không và chưa coi trọng việc rèn luyện
nói cho các em, chỉ chú trọng luyện đọc, luyện viết.
c. Nguyên nhân tồn tại của vấn đề
Một số giáo viên còn xem nhẹ hoạt động nói của học sinh trước lớp, chỉ
chú trọng đến kĩ năng đọc, viết nên trong giờ học Tiếng Việt thời lượng dành
cho hoạt động nói của học sinh quá ít. Chính vì thời lượng ít nên số lượng học
sinh tham gia nói về nội dung bài không được nhiều mà chỉ qua loa một vài em
mạnh dạn, hay phát biểu mà thôi.
Học sinh chưa chú ý lắng nghe một cách tích cực khi giáo viên nêu yêu
cầu đến lúc trình bày thường câu trả lời không đúng mục đích hoặc chưa hết ý.
Một số trường hợp chỉ trả lời một tiếng là “có” hoặc “không” chứ chưa giải
thích được theo ý mình là vì sao có, vì sao không ?. Học sinh còn ỷ lại hoặc nói
theo các bạn chứ chưa chịu khó tự tìm ra câu trả lời hay cho chính mình.
Mặt khác do tâm lí sợ nói sai ý của giáo viên, sợ bạn bè chê cười khi nói
không đúng hoặc nói ngọng. Bên cạnh đó thì học sinh lớp 1 có thể nói môi
trường hoạt động lứa tuổi tiếp xúc với môi trường xã hội còn rất ít chỉ có thể tiếp
xúc với gia đình, nhà trường( chủ yếu là lớp học). Mặc khác các em lần đầu tiên
được học âm- vần, luyện nói thành câu, đoạn do đó vốn từ của học sinh còn rất ít
nên khả năng diễn đạt chưa được trôi chảy. Thêm nữa học sinh lớp 1 chưa đi xa
nhiều, khả năng nhìn nhận quan sát sự vật, sự việc xung quanh còn rất hạn chế
dẫn đến khi luyện nói cũng gặp khó khăn về việc sử dụng từ ngữ.
5. Mô tả sáng kiến:
5.1.Về nội dung của sáng kiến:
Đề tài đưa ra một số giải pháp nhằm giúp giáo viên hướng dẫn các em có
khả năng nói và kĩ năng nói tốt nâng cao chất lượng học tập cho các em. Việc
rèn nói cho các em nói tốt, nói thành thạo, nói đúng, nói đủ ý câu giúp các em tự
tin khi giao tiếp và lĩnh hội được kiến thức bài giảng của giáo viên đầy đủ hơn,
dễ hiểu hơn, hiểu sâu hơn, lôi kéo tất cả mọi đối tượng học sinh vào bài học tốt
hơn, hiệu quả cho tiết dạy của giáo viên vẹn toàn như mong muốn.Với việc sử
dụng sách giáo khoa mới cho học sinh khối lớp 1 là một thách thức lớn cho cả
thầy và trò. Vì vậy, giáo viên phải là tiên phong đi đầu tìm hiểu và nắm chắc
phương pháp đổi mới của phân môn.Tìm hiểu và học hỏi kinh nghiệm giảng dạy
5
của bạn bè đồng nghiệp. Thường xuyên kiểm tra và phân loại đối tượng học
sinh.Tập trung nhiều vào đối tượng học sinh ngại giao tiếp, chưa mạnh dạn, còn
rụt rè.
Sáng kiến rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp 1 cũng đã có rất nhiều người
nghiên cứu, áp dụng nhưng điểm mới của sáng kiến mà tôi đưa ra là: Nêu lên
được những giải pháp thiết thực nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ
thống về năng lực nói đúng, nói hay, nói chuẩn mực, nói có mục đích từ đó nâng
cao khả năng giao tiếp, hợp tác ở các em học sinh lớp 1. Qua đó góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt 1. Thông qua kĩ năng nói giúp các em
có điều kiện tiếp cận và nắm bắt các môn học khác, tạo động lực và thái độ tự
học, tự chiếm lĩnh tri thức.., góp phần hình thành nhân cách con người phát triển
toàn diện. Được thể hiện cụ thể qua 7 giải pháp sau:
Giải pháp 1: Xây dựng môi trường hoạt động thân thiện, tích cực.
Khi tiếp xúc với các em lần đầu tiên, giáo viên cần thiết lập tốt mối quan
hệ, giúp học sinh thấy được sự gần gũi, thân tình nơi giáo viên điều này là cơ sở
giúp học sinh dễ dàng bộc lộ với giáo viên hơn trong những giờ học sau. Giáo
viên có thể làm quen với các em bằng cách giới thiệu về mình cũng là cơ sở để
các em theo đó mà tự giới thiệu bản thân về những điều đơn giản như họ, tên,
tuổi, sở thích,…Điều này không kém phần quan trọng, vì nếu làm được như vậy
thì giáo viên đã góp phần nào giúp học sinh bắt đầu tập làm quen với việc phát
biểu miệng. Hay lúc sinh hoạt đầu tuần, cuối tuần ngoài việc trao đổi với nhau
vấn đề học tập, giáo viên cũng nên dành ít thời gian nói chuyện với các em.
Chính lúc này các em mới cởi mở, thể hiện tâm tư, tình cảm, lời nói của mình.
Chắc chắn sẽ có em thể hiện câu nói đúng, trôi chảy, lưu loát, đủ câu … nhưng
cũng có em chưa nói lưu loát, vụng về trong câu nói của mình. Từ đó giáo viên
chỉnh sửa câu nói của các em cho phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Tạo cho học sinh hoàn cảnh giao tiếp thuận lợi trong giờ luyện nói:
Không khí của giờ luyện nói nên tạo được sự hào hứng cho lớp học, cho từng
em học sinh, làm cho các em phấn khởi, mong muốn được lên trình bày bài nói
của mình. Bởi nếu lớp học ồn ào hoặc người nghe không có thái độ tôn trọng
người nói, không có ý thức cộng tác hội thoại thì người nói sẽ không nói được,
các em sẽ khó diễn đạt khi phải nhìn trước ánh mắt nghiêm khắc của giáo viên
hoặc cái nhìn xét nét của bạn bè trong lớp. Giáo viên cần khuyến khích động
viên khích lệ các em để các em tự tin, phấn khởi khi tham gia nói. Để kích thích
học sinh, giáo viên nên đánh giá khen ngợi, khuyến khích bằng cách thưởng
hoa, tặng những tràng pháo tay động viên sau mỗi bài nói tốt.
Giáo viên phải kích thích nhu cầu nói của học sinh bằng cách sử dụng
6
trực quan, tạo tình huống giao tiếp phù hợp, động viên học sinh tham gia tích
cực khi luyện nói. Giáo viên cần phải tạo ra những tình huống giả định, song
phải có tính chân thực, không gượng ép, khô cứng, phải gần gũi và có sức hấp
dẫn, lôi cuốn, kích thích nhu cầu cho các em khi đã hoà mình vào tình huống,
nhập được vai giao tiếp thì lúc ấy các em sẽ thực sự thể hiện hết mình điều
muốn nói. Nhu cầu giao tiếp rất đa dạng như: nhu cầu muốn bộc lộ sự hiểu biết,
muốn thể hiện kết quả học tập, rèn luyện, nhu cầu muốn tranh luận, bàn bạc với
bạn bè một vấn đề gì đó… Tất cả những nhu cầu đó đều là động lực kích thích
các em nói trong lúc luyện nói. Vì thế giáo viên cần quan tâm tìm hiểu nhu cầu
nói của học sinh để có những biện pháp kích thích nhu cầu đó, tạo húng thú học
tập, từ đó góp phần quan trọng làm tăng hiệu quả dạy học luyện nói, phát triển
kĩ năng nói của các em.
Giải pháp 2: Rèn kỹ năng nói theo từng bước cụ thể và áp dụng
thường xuyên vào tiết luyện nói trong giờ học Tiếng Việt.
Bước 1: Nắm vững mục tiêu và kỹ năng tiết dạy
Giáo viên phải nắm vững yêu cầu của tiết dạy, chúng ta phải hiểu rằng
đây là tiết giúp học sinh “Luyện nói” thì học sinh phải được nói. Phải thực sự
luyện trên lớp cho từng em được nói. Ngoài ra cần phải xác định và nắm rõ mục
tiêu chính của chủ đề cần luyện nói. Chính chủ đề là điểm tựa, gợi ý cho phần
luyện nói, gợi ý sao cho tất cả học sinh đều được nói, không đi quá xa chủ đề.
Tùy tình hình thực tế và khả năng nói của từng em để đưa ra phương pháp và
hình thức dạy luyện nói phù hợp với đối tượng. Phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi
gợi ý cho từng bài thật kĩ. Đồng thời giáo viên hướng cho học sinh đi đúng yêu
cầu, nói chứ không phải là đọc. Đã nói thì phải vận dụng đúng ngôn ngữ nói thể
hiện rõ nhất là ngữ điệu trong sử dụng thành văn. Ngoài ra, các em còn biết thể
hiện qua cử chỉ, nét mặt, sắc thái tình cảm, thái độ khi trình bày.
Bước 2: Hướng dẫn việc chuẩn bị bài ở nhà cho học sinh
Muốn một giờ luyện nói đạt kết quả tốt, ngoài việc hướng dẫn học sinh đi
đúng yêu cầu của một giờ luyện tập trên lớp thì việc cho các em chuẩn bị bài ở
nhà cũng rất quan trọng. Muốn các em chuẩn bị bài tốt, có chất lượng thì sự
chuẩn bị, hướng dẫn của giáo viên cũng phải chu đáo. Trong sách giáo khoa
thường có chủ đề luyện nói ở mỗi bài học. Vì thế tùy theo chủ đề khó hay dễ
mà giáo viên hướng dẫn các em chuẩn bị sao cho phù hợp, để có hiệu quả cao
đối với từng đối tượng học sinh của mình để dạy theo ý chủ quan của giáo viên.
Khi đã phân loại phù hợp rồi, giáo viên phải phân việc cụ thể cho từng đối tượng
học sinh (có thể phân theo dãy bàn, theo tổ, theo nhóm hay cá nhân) để học sinh
chuẩn bị kĩ lưỡng, tránh đối phó qua loa, đại khái.
7
Ví dụ: Trong tiết luyện nói với chủ đề “Xin lỗi” ở sách giáo khoa Tiếng
Việt 1( tập 1) bài 36 trang 85. Giáo viên xác định đây là chủ đề không quá khó
với các em lớp 1. Vì thế trước tiên giáo viên sẽ tạo ra một hệ thống câu hỏi khái
quát về nội dung chủ đề để giao việc cho học sinh. Cụ thể nội dung câu hỏi như
sau:
Câu 1: Ở nhà, các em có hay làm ba mẹ buồn lòng hay không?
Câu 2: Các em làm buồn lòng ba mẹ ở những việc gì?
Câu 3: Khi con làm ba mẹ buồn lòng, thì con đã làm gì?
Câu 4: Thái độ, cử chỉ của các em khi xin lỗi bố mẹ thế nào?
Với hệ thống 4 câu hỏi như trên, tôi sẽ giao nhiệm vụ cho 4 nhóm, mỗi
nhóm tương ứng với một câu hỏi. Khuyến khích các em học tốt chuẩn bị cả bốn
câu. Khi dạy tiết này giáo viên có thể cho học sinh xung phong trình bày các vấn
đề hoặc có thể gọi các đối tượng học sinh trình bày. Đặc biệt quan tâm đến học
sinh chậm, chưa mạnh dạn tự tin. Giáo viên căn cứ vào bài nói của học sinh để
rút kinh nghiệm cho các em lần sau nói tốt hơn lần trước.
* Bước 3: Hướng dẫn học sinh nêu được tên chủ đề
Trong chương trình sách giáo khoa mới ở môn Tiếng Việt 1, chúng ta
thấy nội dung luyện nói được xây dựng dựa trên các chủ đề gần gũi với các em
bằng tranh ảnh minh họa đa dạng, đặc sắc. Chính vì vậy, muốn dạy luyện nói có
hiệu quả thì hoạt động đầu tiên giáo viên cần tiến hành tổ chức cho học sinh nêu
được tên chủ đề bằng cách sử dụng tranh ảnh đẹp hay các đoạn video, chứa nội
dung cần luyện nói để tạo tính tò mò muốn khám phá nhằm gây hứng thú và tập
trung cho học sinh. Tiếp theo là cần rèn phát âm đúng, chính xác để giúp cho
học sinh nói rõ ràng hơn dẫn đến nói liền mạch, lưu loát đúng tên chủ đề. Từ đó
học sinh khắc phục được những lỗi sai khi phát âm. Ví dụ: Các chủ đề: Loài
chim, say mê, giúp bạn, muôn hoa khoe sắc... Học sinh phát âm chưa đúng chưa
chuẩn bởi học sinh còn nói tiếng địa phương vì vậy giáo viên chúng ta phải sửa
các lỗi về phát như: loài-lòi, say-xay, giúp-dúp, khoe-phe…
* Bước 4: Hướng dẫn học sinh thực hành luyện nói trong nhóm.
Từ các nhóm đã phân chia ngay từ đầu năm học nhóm hai hay nhóm bốn
tùy theo chủ đề luyện nói, giáo viên tổ chức hướng dẫn cho học sinh, chỉ đạo
nhóm trưởng tự phân công và kiểm tra việc luyện nói của bạn trong nhóm sau đó
cả nhóm cùng thảo luận, góp ý, dưới sự quan sát giúp đỡ của giáo viên bằng các
câu hỏi gợi mở. Để giúp cho những em lười hay học chậm không có cơ hội nói
nhiều, giáo viên cần quan tâm sâu sát hơn đến đối tượng học sinh này để mỗi em
sẽ được nói ít nhất 1 lần trong nhóm.
8
Tạo cho các em mạnh dạn, tự nhiên khi giao tiếp, bằng những lời xưng hô
phù hợp với từng đối tượng. Giáo viên theo dõi, quan sát để kịp thời uốn nắn,
chữa từng tiếng, từng câu xoay quanh chủ đề đang nói.
Ví dụ: Chủ đề: xin lỗi, cảm ơn, vật nuôi yêu thích…Với các chủ đề này,
giúp các em biết nói lời xin lỗi khi có lỗi, biết chào hỏi, cám ơn, thích những
con vật nuôi… bằng những câu đơn giản làm cho người nghe dễ hiểu khi giao
tiếp trong cuộc sống.
* Bước 5: Tổ chức luyện nói trước lớp.
Sau khi các em luyện nói trong nhóm, giáo viên hướng dẫn các em cử đại
diện lên trình bày. Mời bạn nói tốt nói trước, tiếp đến khuyến khích các bạn
khác nói, đặc biệt giáo viên cần tạo cơ hội luyện nói cho các bạn còn rụt rè, nhút
nhát.
Bên cạnh đó giáo viên cũng chú ý rèn luyện hình thức và tác phong nói:
câu nói phải rõ ràng, mạch lạc, phát âm chuẩn, tránh dùng từ ngữ địa phương.
Vận dụng nét mặt, cử chỉ, dáng điệu phù hợp với nội dung nói. Khi học sinh
đang nói, giáo viên không nên ngắt lời các em một cách tùy tiện (kể cả việc tiếp
lời các em không đúng lúc) sự đứt mạch trong suy nghĩ hoặc lời nói bị gián đoạn
sẽ làm các em lúng túng, nhiều khi các em không nói tiếp được nữa. Cho nên
giáo viên cần bình tĩnh, tôn trọng học sinh, đợi học sinh nói hết câu mới được
sửa chữa. Giáo viên cần giúp học sinh bình tĩnh, tự tin đồng thời phải chú ý đến
thái độ người nghe trong khi mình nói.
* Bước 6: Hướng dẫn học sinh nêu nhận xét.
Muốn có lời nhận xét đầy đủ chính xác trước tiên, giáo viên cần hướng
dẫn các em ngồi ngay ngắn chú ý lắng nghe phần trình bày của bạn. Yêu cầu các
em nhận xét cụ thể về một nội dung luyện nói, cử chỉ nói có tự nhiên, đã thành
câu hay chưa, hay rụt rè, chưa thành câu… Với học sinh còn chậm thì giáo viên
hướng dẫn các em khác nhận xét về mức độ tiến bộ của bạn nhằm giúp các bạn
đó tự tin và tiến bộ hơn.
* Bước 7: Giáo viên nhận xét, góp ý và giáo dục.
Sau khi các em nhận xét về nội dung nói của bạn mình, cách trình bày của
các nhóm, giáo viên đi đến tổng kết nhận xét chung. Nhận xét một cách cụ thể
cần khen ngợi, khuyến khích các em luyện nói tốt. Đồng thời chỉ ra những chi
tiết, những vấn đề mà các em chưa làm tốt, khuyến khích các em bổ sung sửa
chữa vào những bài luyện nói tiếp theo. Lòng ghép giáo dục kĩ năng, thái độ cho
học sinh.
9
Giải pháp 3: Tổ chức thường xuyên các hoạt động ngoại khóa, câu lạc
bộ năng khiếu ở trường .
Sinh hoạt sao là hoạt động tập thể có ý nghĩa quan trọng đối với các học
sinh nhất là học sinh lớp 1. Chính hoạt động sao đã giúp các em thấy mình
dường như lớn lên, trưởng thành hơn, các em được giao lưu, học hỏi với các bạn
khác trong trường, được hoạt động chung, được tham gia các phong trào, các
cuộc thi do đội tổ chức như: thi văn nghệ, thi chúng em là học sinh tiểu học.
Qua hoạt động sao rèn cho các em nhiều kĩ năng nói, kĩ năng giao tiếp
mới đó là giao tiếp với các anh chị phụ trách sao, các bạn trong lớp mình cũng
như các bạn lớp khác, tạo cho các em giao tiếp trong các mối quan hệ đa dạng
hơn.
Cụ thể, trong các buổi sinh hoạt sao hàng tuần, giáo viên chủ nhiệm cũng
cần hướng dẫn các em phụ trách sao soạn sẵn nội dung sinh hoạt, sao cho các
câu hỏi, câu trả lời đầy đủ về ý, rõ lời, diễn đạt được nội dung cần giao tiếp được
lưu loát, bóng bẩy hơn để các em học hỏi. Tạo ra một số trò chơi tăng hứng thú
tham gia cho các em.
Ví dụ: Khi các anh chị phụ trách sao hướng dẫn thực hiện chủ đề “ Bạn bè
thân thiết” yêu cầu từng em kể một bạn trong lớp mình. Để tránh nhàm chán.
Phụ trách sao sẽ tổ chức trò chơi “ Bịt mắt tìm bạn”. Cụ thể luật chơi như sau:
Bịt mắt và ném quả cầu bông, bạn nào bắt được quả cầu bông thì người chơi sẽ
kể về bạn ấy theo một sô câu hỏi gợi ý sau: Người bạn mà em kể tên gì?, Tính
tình bạn ấy ra sao?, Bạn có chơi thân với em không?...vv. Phụ trách sao chú ý
hướng dẫn các em nói đủ ý, rõ ràng, lễ phép với sự giám sát của giáo viên chủ
nhiệm.
Hoạt động phong trào do nhà trường tổ chức là một trong những hoạt
động các em rất yêu thích nên các em nhanh nhớ và nhớ rất lâu. Giáo viên có thể
lồng ghép, hướng dẫn theo dõi, uốn nắn các em nói thuận lợi, mang lại hiệu quả
cao.
Ví dụ: Khi nhà trường tổ chức các cuộc thi như: “Đêm hội trăng rằm”, “
Làm thiệp tặng cô”, … hay các trò chơi dân gian. Các em có thể vì tranh thắng
thua mà có cách cư xử không tế nhị, lời nói không hay với bạn, … giáo viên cần
phân tích, chỉ ra những câu nói không hay, cách xưng hô đúng mực với bạn bè.
Bên cạnh đó, các hoạt động ngoại khóa và câu lạc bộ năng khiếu cũng có
ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển kĩ năng nói của trẻ. Môi trường câu lạc bộ,
đội nhóm sẽ tạo điều kiện để trẻ hòa đồng hơn với các bạn cùng trang lứa. Bên
cạnh đó, đây cũng là cơ hội giúp học sinh bộc lộ hết tất cả năng khiếu, cá tính
10
của mình trong quá trình giao tiếp, ứng xử. Từ đó, các thầy cô có thể uốn nắn,
nhắc nhở và điều chỉnh kịp thời những hành vi chưa đúng, giáo dục cho trẻ về
văn hóa ứng xử phù hợp. Với sự đổi mới trong phương pháp giáo dục, ngày
càng có nhiều câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa được thành lập tại trường tiểu
học. Thấy được vai trò thiết thực như vậy nên cần tổ chức hoạt động thường
xuyên một số câu lạc bộ bổ ích như: Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh, cờ vua, cầu
lông, vẽ tranh, bóng đá, kể chuyện,… Đồng thới để khuyến khích các em tích
cực tham gia, giáo viên nên có phần thưởng động viên khích lệ kịp thời.
Sau quá trình rèn luyện thông qua các câu lạc bộ và hoạt động ngoại khóa,
tinh thần tập thể cũng như kỹ năng nói, ứng xử của trẻ sẽ được nâng cao đáng
kể.
Giải pháp 4: Rèn kĩ năng nói trong giao tiếp hằng ngày:
Hoạt động nói đã được hình thành trước khi vào lớp 1, nhưng để trở thành
kĩ năng thì phải được uốn nắn, rèn luyện cả quá trình giao tiếp với thầy cô, bạn
bè, người thân, mọi người xung quanh. Như tạo thói quen, kĩ năng nói trong
cách trả lời, xưng hô ứng xử, biết nói lời cảm ơn, xin lỗi, chào hỏi như thế nào
để tỏ thái độ phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp.
Ví dụ: Khi tiếp xúc với giáo viên:
Giáo viên hỏi: “ Em đã kiểm tra đồ dùng học tập của bạn chưa?”
Học sinh thường trả lời: “Kiểm tra rồi.”
Khi đó giáo viên phải chỉnh sửa ngay cho học sinh: “Em không được nói
trống không như thế mà phải nói thành câu trọn vẹn và thể hiện thái độ tôn trọng
thầy cô. Chẳng hạn: “Thưa cô, em đã kiểm tra rồi ạ!”. Hay các em hay tự ý ra
ngoài trong giờ học. Khi ấy giáo viên cần hướng dẫn cho cách biết nói lời
 






Các ý kiến mới nhất