Chào mừng quý vị đến với kho học liệu điện tử của Trường tiểu học và trung học cơ sở Ninh Đông
Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
lop 1

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên
Ngày gửi: 22h:02' 28-11-2025
Dung lượng: 8.7 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên
Ngày gửi: 22h:02' 28-11-2025
Dung lượng: 8.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 02/09/1991
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1C thực hiện tốt phép
cộng, phép trừ trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh Đông.”
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán ở lớp 1.
2.2. Mục tiêu: Nhằm giúp học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép trừ
trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh Đông.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1C thực hiện tốt
phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh
Đông.
- Phạm vi nghiên cứu: Giáo viên và học sinh lớp 1 trường Tiểu học và Trung
học cơ sở Ninh Đông.
3. Cơ sở pháp lý
Đề tài SKKN của bản thân viết dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý sau:
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khoá XI) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Thông tư 32/2018/TT-BGDDT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục Phổ thông mới 2018.
- Thông tư số 27/2020/TT – BGDDT ngày 4 tháng 9 năm 2020 quy định đánh
giá học sinh Tiểu học.
4. Thực trạng:
4.1. Ưu điểm:
Giáo viên
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo, của Ban giám hiệu nhà
trường, được sự phối hợp, hỗ trợ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh luôn tạo
điều kiện tốt nhất để các giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học.
2
Giáo viên có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong công tác.
Giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần học
hỏi trau dồi trình độ chuyên môn nghiêp vụ cao.
Trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất thiết bị dạy học đáp ứng được yêu cầu
dạy và học.
Học sinh
Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập, chuẩn bị bài tốt.
Phụ huynh quan tâm, thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở các em học và làm bài
ở nhà.
4.2. Nhược điểm
Giáo viên
GV tiếp cận, vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực còn hạn
chế, mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao.
Học sinh
Nhiều em thuộc bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 một cách máy móc vì học vẹt
nên nhớ không bền vững.
Bảng trừ khó thuộc hơn bảng cộng nên có không ít HS hay nhầm lẫn các phép
tính trừ. Nhiều em phải sử dụng đến việc đếm ngón tay. Khi thực hiện phép cộng, trừ
trong phạm vi 10, các em còn lẫn lộn giữa thực hiện cộng và trừ.
Một số em được bố mẹ bắt học thuộc một cách máy móc trước nên khi đến tiết
học thường chủ quan, không tập trung trong giờ học dẫn đến thực hiện sai.
* Nguyên nhân tồn tại của vấn đề:
Giáo viên
Một số giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục học sinh một cách rập khuôn,
máy móc, chưa sáng tạo, chưa vận dụng cụ thể từng đối tượng học sinh.
Học sinh
Học sinh mới bước vào lớp 1, khả năng tư duy logic và trừu tượng chưa phát
triển đầy đủ.
Học sinh chưa hiểu rõ bản chất của phép cộng, phép trừ mà chỉ học theo kiểu
ghi nhớ máy móc.
5. Mô tả sáng kiến:
5.1. Về nội dung sáng kiến: Những giải pháp, tổ chức thực hiện nâng cao
hiệu quả công tác chủ nhiệm cho học sinh.
Tiểu học là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong hành trình giáo dục của mỗi con
người. Trong số các môn học tại cấp Tiểu học, Toán đóng một vai trò không thể phủ
nhận. Kiến thức toán ở cấp này không chỉ giúp học sinh tiếp tục học môn toán ở các
cấp học cao hơn mà còn theo họ suốt quãng đời học tập và công tác sau này. Môn
Toán không chỉ là những con số, công thức hay bài toán, mà còn là cách để học sinh
3
phát triển tư duy logic, năng lực giải quyết vấn đề và kỹ năng áp dụng lý thuyết vào
thực tế. Vượt ra khỏi giới hạn của lớp học, toán học còn giúp học sinh phát triển toàn
diện về năng lực cá nhân và phẩm chất trí tuệ, tạo nền tảng cho sự sáng tạo, linh hoạt
trong suy nghĩ và hành động của họ trong tương lai.
Đặc biệt đối với học sinh lớp Một, việc thực hiện thành thạo các phép tính
cộng, trừ trong phạm vi 10 là nội dung được chú trọng bởi đây phép tính cơ bản
trong dạy toán tiểu học. Xuất phát từ thực tiễn, các em vừa mới vào lớp Một còn
nhiều bỡ ngỡ với môi trường học tập mới. Việc hứng thú học toán của học sinh chỉ
chiếm thiểu số trên đại đa số học sinh cho rằng học toán là bị áp lực, lo lắng, sợ hãi
bởi các em chưa quen với các phép tính và không tự tin khi làm bài. Vì vậy làm thế
nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được nâng cao là việc
làm vô cùng quan trọng , nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.
Nhận thức được vai trò quan trọng của người giáo viên trong việc giảng dạy
môn Toán lớp 1, đặc biệt là việc giúp các em thực hiện tốt phép cộng, phép trừ trong
phạm vi 10, qua quá trình dạy học và nghiên cứu, tôi đưa ra các giải pháp sau đây:
Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh phân biệt giữa phép cộng và phép trừ.
Tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh phân biệt "phép cộng" và "phép
trừ" là rất lớn. Đây là những khái niệm toán học cơ bản và căn bản, là nền tảng cho
việc học toán phát triển sau này. Nắm vững khái niệm này từ lúc sớm sẽ giúp học
sinh xây dựng một cơ sở toán học vững chắc và tự tin khi học tập.
Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu vào chủ đề “Phép cộng và phép trừ”, tôi luôn
giải thích cho các em nắm được khái niệm và cách phân biệt phép cộng và phép trừ
như: “cộng là thêm, trừ là bớt”. Ở tiết học toán, trong từng hoạt động, tôi luôn đặt
câu hỏi “ cộng là gì? trừ là gì ?”, và cho nhiều học sinh nhắc lại để khắc sâu cho các
em.
Để giúp học sinh lớp 1 phân biệt giữa phép cộng và phép trừ một cách dễ hiểu,
tôi còn sử dụng các ví dụ minh họa cụ thể như sau:
- Chuẩn bị các dồ dùng trực quan.
- Về phép cộng, ví dụ: Nếu trong hộp có 3 viên kẹo, khi em thêm 1 viên kẹo
nữa vào, tổng số viên kẹo trong hộp sẽ là 3 + 1 = 4. Giáo viên vừa nói vừa làm vừa
cho học sinh quan sát, nhận xét số lượng viên kẹo từng bước thực hiện. Đây là phép
cộng.
Tương tự, phép trừ, ví dụ: Nếu trong hộp có 4 viên kẹo, khi em lấy đi 1 viên
kẹo, số viên kẹo còn lại trong hộp sẽ là 4 - 1 = 3. Giáo viên cũng vừa nói vừa làm
vừa cho học sinh quan sát, nhận xét số lượng viên kẹo từng bước thực hiện. Đây là
phép trừ.
Bằng cách sử dụng các ví dụ minh họa như trên, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết
và phân biệt giữa phép cộng và phép trừ trong cuộc sống hàng ngày của mình. Ngoài
4
ra việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với việc cho học sinh thực hiện trực tiếp
giúp các em nhớ lâu hơn và nắm rõ hơn về khái niệm giữa phép cộng và phép trừ.
Khi học sinh hiểu được bản chất của phép trừ, phép cộng thì học sinh dễ dàng
thao tác trên đồ dùng để hình thành kiến thức mới và không nhầm lẫn phép cộng và
phép trừ.
Giải pháp 2: Vận dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trực quan giúp học sinh
dễ dàng thực hiện phép tính.
Bằng cách sử dụng các đồ dùng dạy học trực quan và các hoạt động thực hành,
học sinh lớp 1 sẽ có cơ hội trải nghiệm và hình thành khả năng làm chủ các phép tính
cộng và trừ một cách tự tin và hiệu quả. Đồng thời, các hoạt động này cũng giúp tạo
ra một môi trường học tích cực và thú vị, khuyến khích sự tương tác và hợp tác giữa
các em.
* Cách tiến hành khi sử dụng phương pháp trực quan:
Bước 1: Giáo viên nêu vấn đề ( bài toán) và lệnh cho HS thao tác trên đồ dùng.
Bước 2: Học sinh tiến hành tìm cách làm và kết quả của bài toán.
Bước 3: Học sinh trình bày cách làm trên đồ dùng và kết quả.
Bước 4: Giáo viên kiểm tra và chốt kiến thức cơ bản
Ví dụ: Que tính là một công cụ hữu ích để minh họa phép tính cộng và trừ một
cách trực quan. Học sinh có thể sử dụng que tính để thực hành cộng và trừ số lượng
đối tượng nhất định. Bằng cách này, học sinh có thể thấy được quá trình thêm và bớt
đối tượng một cách rõ ràng.
Áp dụng: Dạy bài 10: "Phép cộng trong phạm vi 10"
Bước 1: Lập phép tính 3 + 2
Nêu đề toán kết hợp lệnh cho HS:
+ Lấy 3 que tính;
+ Lấy thêm 2 que tính nữa;
+ GV đặt câu hỏi: Muốn biết đã lấy tất cả bao nhiêu que tính làm như thế nào?
+ Tự gộp số que tính và tìm kết quả?
Bước 2: Học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi và hướng dẫn.
Bước 3: Cho HS báo cáo cách làm và kết quả.
Bước 4: GV tổng kết các cách làm;
- Khẳng định cách làm khoa học nhất
- GV thao tác lại
- Chốt: 3 + 2 = 5
* Lập bảng cộng
- Lệnh cho HS gộp số que tính ứng với phép tính: 3 + 2 = 5
- GV ghi bảng phép tính.
5
Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng dạy học như viên kẹo, hoặc
hộp đếm để tạo ra các bài toán cộng và trừ thú vị. Học sinh có thể sử dụng các đồ vật
này để thực hiện phép tính và thấy được kết quả một cách trực quan.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Phép trừ trong phạm vi 10”, tôi cho học sinh quan sát hộp
chứa 6 viên kẹo. Sau đó tôi mời 1 em lên bảng, yêu cầu em lấy đi 2 viên kẹo, và đếm
số viên kẹo còn lại trong hộp.
Từ đó tôi lập phép tính trừ: 6 – 2 = 4
Qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan giúp học sinh hình dung và hiểu
rõ hơn về quá trình cộng và trừ. Thấy được sự biến đổi của các đối tượng hoặc số
lượng một cách trực tiếp, giúp học sinh kết nối khái niệm toán học với thực tế. Các
hoạt động sử dụng đồ dùng dạy học trực quan thường mang lại trải nghiệm học tập
tích cực và thú vị cho học sinh. Các em có cơ hội tham gia hoạt động tương tác, sáng
tạo và học hỏi từ những trải nghiệm thực tế, từ đó khuyến khích sự hứng thú và niềm
đam mê trong việc học toán.
Giải pháp 3: Sử dụng phương pháp dạy học tích cực tạo hứng thú và chú
ý cho học sinh.
Phương pháp dạy học tích cực môn Toán là phương pháp dạy học mà ở đó
giáo viên sẽ dùng đến một nhóm phương pháp giáo dục để giúp học sinh phát triển
kỹ năng học toán theo hướng chủ động, tích cực và sáng tạo.
Thông qua phương pháp này, học sinh sẽ hình thành các năng lực: tư duy và
lập luận, mô hình hóa, giải quyết các vấn đề và dụng các phương tiện cùng công cụ
của toán học.
Một số phương pháp dạy học tôi đã áp dụng khi dạy học sinh các bài về phép
cộng, phép trừ trong phạm vi 10:
Phương pháp “Bàn tay nặn bột”: Đây là một phương pháp dạy học mới
được áp dụng để dạy môn Tự nhiên và Xã hội. Song qua quá trình giảng dạy, có thể
áp dụng vào dạy môn Toán ở phần "Phép cộng, phép trừ”.
Khi sử dụng phương pháp này vào giảng dạy, học sinh được phán đoán, tự tìm
cách giải quyết phán đoán của mình rồi lại được tự mình kiểm chứng phán đoán của
mình. Mặt khác, các em được cùng các bạn tìm ra kết quả và cách làm của mỗi bài
toán nên các em nhớ rất lâu kiến thức đó
* Các bước tiến hành khi sử dụng phương pháp" Bàn tay nặn bột"
Bước 1: Giáo viên nêu tình huống xuất phát (bài toán)
Bước 2: Học sinh phán đoán kết quả
Bước 3: Học sinh để xuất cách làm
Bước 4: Học sinh tiến hành tìm kết quả theo cách làm mình đề xuất
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
* Ví dụ minh họa : Dạy bài " Phép cộng trong phạm vi 10"
6
Phép tính: 3+1
Bước 1: Giáo viên nêu bài toán, có thể là một tình huống cụ thể, ví dụ: “Trên
bàn có 3 quả táo, cô đưa thêm 1 quả táo nữa. Hỏi trên bàn có tất cả bao nhiêu quả
táo?”
Bước 2: Học sinh phán đoán kết quả. Học sinh có thể đưa ra dự đoán hoặc suy
nghĩ của mình về số quả táo, ví dụ : “ Có 4 quả”, “ Có 5 quả” hoặc thậm chí nhầm
lẫn.
Bước 3: Học sinh đề xuất cách làm. Các em có thể sử dụng vật thật như quả
táo, viên sỏi, que tính,... để kiểm chứng suy nghĩ của mình.
Bước 4: Học sinh tiến hành tìm kết quả theo cách làm mình đề xuất. Học sinh
lấy 3 quả táo, thêm 1 quả nữa và tự đếm: “ 1, 2, 3, 4”.
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
Sau khi kiểm tra và thảo luận, học sinh nhận ra rằng 3 + 1= 4.
Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ kết quả và hiểu bản chất của phép cộng.
*Tóm lại: Được học phép cộng, phép trừ dưới hình thức nghiên cứu khoa học
như trên, HS các em tự tìm được sẽ in đậm hơn trong trí nhớ. Những kiến thức đó
như là thành quả nghiên cứu khoa học của các em. Chính vì thế, nó dễ dàng khắc
phục những sai lầm nếu các em tiếp thu kiến thức bằng con đường máy móc bắt
chước làm mẫu.
Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp qua quan sát trên hình vẽ (biểu đồ ven) cùng sự giúp đỡ
của GV, HS sẽ tìm ra kết quả của phép tính. Trên cơ sở đó HS tự phát hiện cơ sở
khoa học để thực hiện phép tính.
* Cách tiến hành khi sử dụng phương pháp quan sát
Bước 1: Giáo viên đưa hình vẽ và nêu vấn đề ( bài toán).
Bước 2: Học sinh tiến hành tìm kết quả của bài toán qua quan sát.
Bước 3: Học sinh trình bày cách làm và kết quả.
Bước 4: Giáo viên kiểm tra và chốt kiến thức cơ bản.
*Ví dụ minh họa : Dạy bài "Phép trừ trong phạm vi 10"
Bước 1: Lập phép tính 7 – 1
-Đưa hình vẽ
GV hỏi:
Có tất cả bao nhiêu hình tròn?
Cô cắt đi 1 hình tròn, muốn biết còn mấy hình trong ta làm phép tính gì?
Bước 2: Yêu cầu HS tìm kết quả của phép tính 7 - 1 qua hình vẽ.
- GV theo dõi và hướng dẫn HS chậm.
7
Bước 3: Cho HS báo cáo kết quả.
Ghi bảng: 7 - 1 = 6
Bước 4: Cho HS kiểm tra kết quả bằng cách đếm số hình tròn
- Chốt: 7 - 1 = 6
Mỗi phương pháp dạy học có những đặc trưng riêng. GV linh hoạt và sáng tạo
sử dụng các phương pháp đó trong dạy” Phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10” cho
HS lớp 1 sẽ giúp các em tạo được nền móng vững chắc cho ngôi nhà Toán học của
các em.
Giải pháp 4: Tổ chức trò chơi dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập
của học sinh.
Khi giáo viên tổ chức các trò chơi học tập thường xuyên, không chỉ giúp học
sinh lĩnh hội tri thức toán học một cách dễ dàng, mà còn giúp củng cố kiến thức và
khắc sâu chúng một cách vững chắc. Nhờ vào tính tương tác và thú vị của trò chơi,
học sinh được kích thích và hứng thú hơn trong quá trình học tập. Học sinh không
chỉ học qua lý thuyết mà còn áp dụng kiến thức vào thực tế, từ đó hiểu sâu hơn về
cách thức hoạt động của các phép tính và mối quan hệ giữa chúng.
Ngoài ra, việc tổ chức các trò chơi toán học thường xuyên cũng đánh thức
niềm say mê và hứng thú trong học tập của học sinh. Các em mong chờ những buổi
học vui vẻ và thú vị, và cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động toán học.
Điều này góp phần vào việc tạo ra một môi trường học tích cực và động viên học
sinh tiếp tục khám phá và phát triển khả năng toán học của mình.
Song muốn tổ chức được trò chơi trong dạy toán có hiệu quả thì người giáo
viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Trò chơi phải mang ý nghĩa giáo dục.
+ Trò chơi phải nhằm mục đích khởi động cho tiết học hoặc phải nhằm mục
đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học.
+ Trò chơi phải phù hợp với tâm lý học sinh lớp 1, phù hợp với khả năng
người hướng dẫn, sự chuẩn bị của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường.
+ Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
+ Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh.
Ví dụ: Trò chơi Bí mật hộp quà hay Viên kẹo ngọt ngào
- Củng cố kỹ năng làm phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10
Áp dụng trong các bài dạng: Em làm được những gì? Ôn tập, hoạt động kiểm
tra bài cũ, củng cố bài học.
Mục đích: Đây là trò chơi để củng cố hoặc kiểm tra bài cũ. Các em sẽ được thể
hiện mình.
Cách chơi: Mỗi em sẽ được chọn 1 hộp quà hoặc viên kẹo sau đó trả lời bài
tập bên trong.
8
Ví dụ: Trò chơi : “Ong bay về tổ”
Áp dụng trong các bài: về luyện tập phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10
Mục đích: Đây là trò chơi rèn cho học sinh phát triển năng lực tính toán, năng
lực giao tiếp và hợp tác.
Cách chơi: GV chọn ra 2 đội chơi có các thành viên tìm các chú ong đúng với
các phép tính hoặc kết quả cần tìm để giúp chú ong bay về đúng tổ của mình .
Ngoài ra, ở một số tiết học, tôi ứng dụng thêm hiệu quả từ công nghệ thông tin,
thiết kế một số trò chơi bằng Powerpoint, quizizz,….giúp học sinh hứng thú hơn vào
bài học nhờ hiệu ứng hình ảnh từ các công cụ này.
9
Ví dụ minh họa: Khi dạy bài: Bài 10: Phép cộng trong phạm vi 10 - SGK Kết
nối tri thức ( trang 56), tôi lồng ghép trò chơi Tom&Jerry được thiết kế theo hình
thức trắc nghiệm chọn đáp án đúng bằng phần mềm PowerPoint như sau:
Hoặc Khi dạy bài: Bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10 (Trang 82), để
củng cố kiến thức cho học sinh, ở cuối tiết học, tôi tổ chức trò chơi “Gấu tìm mật”
bằng công cụ PowerPoint để học sinh cùng tham gia.
10
Một công cụ khác tôi thường sử dụng để học sinh có thể ôn lại kiến thức ở trên
lớp lẫn ở nhà là Quizizz thông qua việc tạo các câu hỏi, bài tập để các em tham gia.
Trường hợp ở nhà, tôi nhờ phụ huynh hỗ trợ các em làm bài thông qua điện thoại
thông minh để ôn tập thêm ( đối với một số học sinh chưa thành thạo và có nhu cầu
muốn ôn tập bài cũ).
Hình ảnh minh họa bài tập sử dụng công cụ Quizizz để tạo câu hỏi trắc nghiệm
củng cố
Tóm lại, tổ chức trò chơi trong dạy học toán lớp 1 mang lại hiệu quả cao trong
việc giúp học sinh thực hiện tốt phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Thông qua các trò
chơi, học sinh được kích thích sự hứng thú và tích cực tham gia vào quá trình học
tập. Trò chơi tạo cơ hội cho các em thực hành nhiều lần các phép tính, từ đó nâng cao
khả năng ghi nhớ và vận dụng kiến thức. Hơn nữa, việc học qua trò chơi giúp học
sinh giảm bớt áp lực, tạo môi trường học tập thoải mái và vui vẻ. Nhờ vậy, các em
không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề
một cách tự nhiên và hiệu quả.
Giải pháp 5: Vận dụng hiệu quả của phương pháp giáo dục STEM giúp
học sinh tạo công cụ hỗ trợ thực hiện phép cộng, trừ trong phạm vi 10.
Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn
và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học như các đối tượng tách
biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các
ứng dụng thực tế. Vì vậy khi áp dụng hiệu quả của phương pháp này vào việc cho HS
thực hành các hoạt động trải nghiệm tạo sản phẩm học tập môn Toán học sẽ giúp các
11
em ghi nhớ kiến thức, vận dụng kiến thức và có hứng thú hơn so với việc áp dụng
các phương pháp dạy học truyền thống.
Dạy học STEM tuy mới được đưa vào giảng dạy từ đầu năm học 2024-2025
nhưng đã đem lại những kết quả đáng kể trong môn học Toán.
Cách tiến hành:
Tôi tiến hành xây dựng bài học STEM với chủ đề "Dụng cụ tính cộng, trừ".
Nội dung chủ đạo của chủ đề lần này là môn Toán được áp dụng khi dạy bài cuối
cùng của chủ đề 2: "Các phép tính trong phạm vi 10". Học sinh sẽ thực hành các
phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10. Ngoài ra chủ đề còn tích hợp thêm nội
dung môn Mỹ thuật: Biết cách sử dụng công cụ phù hợp với vật liệu và an toàn trong
thực hành, sáng tạo, thực hiện được các bước trong thực hành làm ra sản phẩm, sử
dụng được màu sắc khác nhau để làm ra sản phẩm, trưng bày, chia sẻ cảm nhận về
sản phẩm.
Bước 1: Khởi động – Khám phá vấn đề (Tạo tình huống thực tế)
Bước 2: Hình thành kiến thức (Toán học)
Bước 3: Hoạt động thiết kế – Sáng tạo (Kỹ thuật & Công nghệ)
Bước 4: Áp dụng và giải quyết vấn đề (Thực tế)
Bước 5: Đánh giá và phản hồi
Ví dụ cụ thể như sau:
Bước 1: Khởi động – Khám phá vấn đề (Tạo tình huống thực tế)
Tình huống: “Cô giáo nhận nhiệm vụ mở một cửa hàng bán trái cây nhỏ.
Nhưng cô cần các bạn giúp đỡ để tính số lượng trái cây để bán. Các con đã sẵn sàng
trở thành những người quản lý thông minh chưa?”
Hỏi gợi mở:
- Nếu cửa hàng có 5 quả táo, mẹ mang thêm 3 quả nữa, thì có tất cả bao nhiêu
quả?
- Nếu bán đi 2 quả cam trong số 8 quả cam, còn lại bao nhiêu quả?
Học sinh bước đầu nhận ra sự cần thiết của việc thực hiện phép cộng và trừ
trong cuộc sống.
Bước 2: Hình thành kiến thức (Toán học)
Giới thiệu phép cộng: Thêm vào, tăng lên.
Giới thiệu phép trừ: Bớt đi, giảm đi.
Dùng vật liệu trực quan: Que tính, khối hình, trái cây nhựa hoặc hình vẽ minh
họa.
Hoạt động thực hành:
Thực hiện phép cộng bằng cách thêm số lượng đồ vật. Ví dụ: “5 quả táo thêm
3 quả, được mấy quả?”
Thực hiện phép trừ bằng cách bớt đi số lượng đồ vật. Ví dụ: “Có 8 quả táo,
bán đi 2 quả, còn lại bao nhiêu quả?”
Bước 3: Hoạt động thiết kế – Sáng tạo (Kỹ thuật & Công nghệ)
Nhiệm vụ nhóm: Chế tạo “Chiếc hộp phép toán thông minh”
12
Nguyên liệu: Hộp giấy, bìa màu, que tính, giấy ghi phép toán.
Cách làm:
Cắt 2 khe trên hộp giấy, mỗi khe là nơi học sinh thả các thẻ ghi số hoặc phép
tính cộng, phép trừ trong phạm vi 10.
Học sinh nhét các thẻ ghi số vào khe, cộng hoặc trừ chúng và ghi kết quả ra
giấy.
Hoặc: Dùng công nghệ đơn giản như PowerPoint hoặc phần mềm vẽ để tạo
hình minh họa phép toán.
Bước 4: Áp dụng và giải quyết vấn đề (Thực tế)
Tạo “Siêu thị mini” trong lớp:
Dùng các mô hình hoặc hình ảnh trái cây, bánh kẹo.
Học sinh đóng vai người bán và người mua. Người mua đặt câu hỏi về số
lượng, người bán phải cộng hoặc trừ các phép tính trong phạm vi 10 để trả lời chính
xác.
Tổ chức trò chơi:
“Ai nhanh hơn”: Học sinh giơ bảng đáp án khi nghe câu hỏi cộng/trừ.
“Tìm kho báu”: Giải đúng phép tính để nhận gợi ý tìm kho báu.
Bước 5: Đánh giá và phản hồi
Tự đánh giá: Cho học sinh làm phiếu bài tập hoặc bài trắc nghiệm nhanh.
Nhận xét đồng đội: Đánh giá các nhóm dựa trên sự hợp tác, sáng tạo và kết
quả.
Phản hồi từ giáo viên: Ghi nhận nỗ lực, khuyến khích sáng tạo và giải thích
những lỗi sai nếu có.
Trong quá trình tạo ra sản phẩm, đôi khi học sinh bố trí dụng cụ không chính
xác. Nhưng đối với các khóa học STEM, thất bại là một phần tất yếu của quá trình.
Điều quan trọng là học sinh học được gì và học được những kỹ năng gì trong và sau
quá trình học.
5.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân và học
sinh, tôi đã thu được kết quả thật đáng mừng:
- Học sinh không những nắm được kiến thức bài học mà còn nhớ rất lâu
những kiến thức của bài học đó.
- Các em được rèn khả năng nhanh nhẹn, khéo léo và tạo cho các em mạnh
dạn, tự tin hơn.
- Học sinh rất hứng thú với giờ học, chất lượng của học sinh ngày một tăng
lên, đã xoá được số lượng học sinh chưa hoàn thành; số học sinh xếp loại đạt từ hoàn
thành tăng lên rõ rệt.
- Học sinh hứng thú, biết hợp tác trong làm việc nhóm, biết chia sẽ với nhau
cùng nhau tiến bộ hơn trong môn toán. Mỗi giờ học toán sôi nổi, vui vẻ và tràn đầy
tính tích cực của học sinh.
- Điều đáng mừng hơn nữa là các em rất hào hứng, chờ đợi tiết học toán tạo
cho các em lòng yêu thích, ham mê với môn Toán.
13
Vận dụng các giải pháp trên vào dạy học Toán, chất lượng học sinh tăng lên rõ
rệt qua từng giai đoạn của các năm học, cụ thể qua bảng khảo sát chất lượng như sau:
Xếp loại
Năm học
Thời
điểm
Hoàn thành Tốt
Hoàn thành
Chưa Hoàn
thành
Số lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
2023-2024
Cuối kì 1
19/9
57,6%
14/3
42,4%
0
0
(Số HS:
Cuối
năm
23/10
69,7%
10/2
30,3%
0
0
Cuối kì 1
14/8
56%
11/5
44%
0
0
33/12)
2024-2025
(Số HS:
25/13)
Các giải pháp mà tôi đưa ra có thể áp dụng được khối lớp 1 tại Trường Tiểu
học và Trung học cơ sở Ninh Đông và khối lớp 1 của một số trường Tiểu học trên địa
bàn thị xã Ninh Hòa.
* Điều kiện cần thiết để áp dụng các giải pháp:
Nhà trường cần tạo điều kiện đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, phương tiện và đồ
dùng dạy h
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
SÁNG KIẾN
- Họ và tên: Nguyễn Hoàng Thủy Tiên
Giới tính: Nữ
- Ngày, tháng, năm sinh: 02/09/1991
- Cơ quan, đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ninh Đông
- Chức vụ/ chức danh: Giáo viên
- Trình độ chuyên môn: Đại học Sư phạm
1. Tên sáng kiến: “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1C thực hiện tốt phép
cộng, phép trừ trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh Đông.”
2. Lĩnh vực áp dụng
2.1. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn Toán ở lớp 1.
2.2. Mục tiêu: Nhằm giúp học sinh lớp 1 thực hiện tốt phép cộng, phép trừ
trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh Đông.
2.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số giải pháp giúp học sinh lớp 1C thực hiện tốt
phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10 tại trường Tiểu học và Trung học cơ sở Ninh
Đông.
- Phạm vi nghiên cứu: Giáo viên và học sinh lớp 1 trường Tiểu học và Trung
học cơ sở Ninh Đông.
3. Cơ sở pháp lý
Đề tài SKKN của bản thân viết dựa trên cơ sở các văn bản pháp lý sau:
- Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khoá XI) về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa và hội nhập quốc tế.
- Thông tư 32/2018/TT-BGDDT ngày 26 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục Phổ thông mới 2018.
- Thông tư số 27/2020/TT – BGDDT ngày 4 tháng 9 năm 2020 quy định đánh
giá học sinh Tiểu học.
4. Thực trạng:
4.1. Ưu điểm:
Giáo viên
Được sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo, của Ban giám hiệu nhà
trường, được sự phối hợp, hỗ trợ nhiệt tình của các bậc phụ huynh học sinh luôn tạo
điều kiện tốt nhất để các giáo viên hoàn thành nhiệm vụ năm học.
2
Giáo viên có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau trong công tác.
Giáo viên có kinh nghiệm trong giảng dạy, yêu nghề mến trẻ, có tinh thần học
hỏi trau dồi trình độ chuyên môn nghiêp vụ cao.
Trường trang bị đầy đủ cơ sở vật chất thiết bị dạy học đáp ứng được yêu cầu
dạy và học.
Học sinh
Đa số học sinh ngoan, có ý thức học tập, chuẩn bị bài tốt.
Phụ huynh quan tâm, thường xuyên đôn đốc, nhắc nhở các em học và làm bài
ở nhà.
4.2. Nhược điểm
Giáo viên
GV tiếp cận, vận dụng các phương pháp dạy học theo hướng tích cực còn hạn
chế, mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao.
Học sinh
Nhiều em thuộc bảng cộng, trừ trong phạm vi 10 một cách máy móc vì học vẹt
nên nhớ không bền vững.
Bảng trừ khó thuộc hơn bảng cộng nên có không ít HS hay nhầm lẫn các phép
tính trừ. Nhiều em phải sử dụng đến việc đếm ngón tay. Khi thực hiện phép cộng, trừ
trong phạm vi 10, các em còn lẫn lộn giữa thực hiện cộng và trừ.
Một số em được bố mẹ bắt học thuộc một cách máy móc trước nên khi đến tiết
học thường chủ quan, không tập trung trong giờ học dẫn đến thực hiện sai.
* Nguyên nhân tồn tại của vấn đề:
Giáo viên
Một số giáo viên sử dụng phương pháp giáo dục học sinh một cách rập khuôn,
máy móc, chưa sáng tạo, chưa vận dụng cụ thể từng đối tượng học sinh.
Học sinh
Học sinh mới bước vào lớp 1, khả năng tư duy logic và trừu tượng chưa phát
triển đầy đủ.
Học sinh chưa hiểu rõ bản chất của phép cộng, phép trừ mà chỉ học theo kiểu
ghi nhớ máy móc.
5. Mô tả sáng kiến:
5.1. Về nội dung sáng kiến: Những giải pháp, tổ chức thực hiện nâng cao
hiệu quả công tác chủ nhiệm cho học sinh.
Tiểu học là giai đoạn cực kỳ quan trọng trong hành trình giáo dục của mỗi con
người. Trong số các môn học tại cấp Tiểu học, Toán đóng một vai trò không thể phủ
nhận. Kiến thức toán ở cấp này không chỉ giúp học sinh tiếp tục học môn toán ở các
cấp học cao hơn mà còn theo họ suốt quãng đời học tập và công tác sau này. Môn
Toán không chỉ là những con số, công thức hay bài toán, mà còn là cách để học sinh
3
phát triển tư duy logic, năng lực giải quyết vấn đề và kỹ năng áp dụng lý thuyết vào
thực tế. Vượt ra khỏi giới hạn của lớp học, toán học còn giúp học sinh phát triển toàn
diện về năng lực cá nhân và phẩm chất trí tuệ, tạo nền tảng cho sự sáng tạo, linh hoạt
trong suy nghĩ và hành động của họ trong tương lai.
Đặc biệt đối với học sinh lớp Một, việc thực hiện thành thạo các phép tính
cộng, trừ trong phạm vi 10 là nội dung được chú trọng bởi đây phép tính cơ bản
trong dạy toán tiểu học. Xuất phát từ thực tiễn, các em vừa mới vào lớp Một còn
nhiều bỡ ngỡ với môi trường học tập mới. Việc hứng thú học toán của học sinh chỉ
chiếm thiểu số trên đại đa số học sinh cho rằng học toán là bị áp lực, lo lắng, sợ hãi
bởi các em chưa quen với các phép tính và không tự tin khi làm bài. Vì vậy làm thế
nào để học sinh học tốt môn toán lớp 1, chất lượng môn toán được nâng cao là việc
làm vô cùng quan trọng , nhằm đáp ứng nhu cầu giáo dục hiện nay.
Nhận thức được vai trò quan trọng của người giáo viên trong việc giảng dạy
môn Toán lớp 1, đặc biệt là việc giúp các em thực hiện tốt phép cộng, phép trừ trong
phạm vi 10, qua quá trình dạy học và nghiên cứu, tôi đưa ra các giải pháp sau đây:
Giải pháp 1: Hướng dẫn học sinh phân biệt giữa phép cộng và phép trừ.
Tầm quan trọng của việc hướng dẫn học sinh phân biệt "phép cộng" và "phép
trừ" là rất lớn. Đây là những khái niệm toán học cơ bản và căn bản, là nền tảng cho
việc học toán phát triển sau này. Nắm vững khái niệm này từ lúc sớm sẽ giúp học
sinh xây dựng một cơ sở toán học vững chắc và tự tin khi học tập.
Chính vì vậy ngay từ khi bắt đầu vào chủ đề “Phép cộng và phép trừ”, tôi luôn
giải thích cho các em nắm được khái niệm và cách phân biệt phép cộng và phép trừ
như: “cộng là thêm, trừ là bớt”. Ở tiết học toán, trong từng hoạt động, tôi luôn đặt
câu hỏi “ cộng là gì? trừ là gì ?”, và cho nhiều học sinh nhắc lại để khắc sâu cho các
em.
Để giúp học sinh lớp 1 phân biệt giữa phép cộng và phép trừ một cách dễ hiểu,
tôi còn sử dụng các ví dụ minh họa cụ thể như sau:
- Chuẩn bị các dồ dùng trực quan.
- Về phép cộng, ví dụ: Nếu trong hộp có 3 viên kẹo, khi em thêm 1 viên kẹo
nữa vào, tổng số viên kẹo trong hộp sẽ là 3 + 1 = 4. Giáo viên vừa nói vừa làm vừa
cho học sinh quan sát, nhận xét số lượng viên kẹo từng bước thực hiện. Đây là phép
cộng.
Tương tự, phép trừ, ví dụ: Nếu trong hộp có 4 viên kẹo, khi em lấy đi 1 viên
kẹo, số viên kẹo còn lại trong hộp sẽ là 4 - 1 = 3. Giáo viên cũng vừa nói vừa làm
vừa cho học sinh quan sát, nhận xét số lượng viên kẹo từng bước thực hiện. Đây là
phép trừ.
Bằng cách sử dụng các ví dụ minh họa như trên, học sinh sẽ dễ dàng nhận biết
và phân biệt giữa phép cộng và phép trừ trong cuộc sống hàng ngày của mình. Ngoài
4
ra việc sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với việc cho học sinh thực hiện trực tiếp
giúp các em nhớ lâu hơn và nắm rõ hơn về khái niệm giữa phép cộng và phép trừ.
Khi học sinh hiểu được bản chất của phép trừ, phép cộng thì học sinh dễ dàng
thao tác trên đồ dùng để hình thành kiến thức mới và không nhầm lẫn phép cộng và
phép trừ.
Giải pháp 2: Vận dụng hiệu quả đồ dùng dạy học trực quan giúp học sinh
dễ dàng thực hiện phép tính.
Bằng cách sử dụng các đồ dùng dạy học trực quan và các hoạt động thực hành,
học sinh lớp 1 sẽ có cơ hội trải nghiệm và hình thành khả năng làm chủ các phép tính
cộng và trừ một cách tự tin và hiệu quả. Đồng thời, các hoạt động này cũng giúp tạo
ra một môi trường học tích cực và thú vị, khuyến khích sự tương tác và hợp tác giữa
các em.
* Cách tiến hành khi sử dụng phương pháp trực quan:
Bước 1: Giáo viên nêu vấn đề ( bài toán) và lệnh cho HS thao tác trên đồ dùng.
Bước 2: Học sinh tiến hành tìm cách làm và kết quả của bài toán.
Bước 3: Học sinh trình bày cách làm trên đồ dùng và kết quả.
Bước 4: Giáo viên kiểm tra và chốt kiến thức cơ bản
Ví dụ: Que tính là một công cụ hữu ích để minh họa phép tính cộng và trừ một
cách trực quan. Học sinh có thể sử dụng que tính để thực hành cộng và trừ số lượng
đối tượng nhất định. Bằng cách này, học sinh có thể thấy được quá trình thêm và bớt
đối tượng một cách rõ ràng.
Áp dụng: Dạy bài 10: "Phép cộng trong phạm vi 10"
Bước 1: Lập phép tính 3 + 2
Nêu đề toán kết hợp lệnh cho HS:
+ Lấy 3 que tính;
+ Lấy thêm 2 que tính nữa;
+ GV đặt câu hỏi: Muốn biết đã lấy tất cả bao nhiêu que tính làm như thế nào?
+ Tự gộp số que tính và tìm kết quả?
Bước 2: Học sinh thực hiện, giáo viên theo dõi và hướng dẫn.
Bước 3: Cho HS báo cáo cách làm và kết quả.
Bước 4: GV tổng kết các cách làm;
- Khẳng định cách làm khoa học nhất
- GV thao tác lại
- Chốt: 3 + 2 = 5
* Lập bảng cộng
- Lệnh cho HS gộp số que tính ứng với phép tính: 3 + 2 = 5
- GV ghi bảng phép tính.
5
Ngoài ra, giáo viên có thể sử dụng các đồ dùng dạy học như viên kẹo, hoặc
hộp đếm để tạo ra các bài toán cộng và trừ thú vị. Học sinh có thể sử dụng các đồ vật
này để thực hiện phép tính và thấy được kết quả một cách trực quan.
Ví dụ: Khi dạy bài: “Phép trừ trong phạm vi 10”, tôi cho học sinh quan sát hộp
chứa 6 viên kẹo. Sau đó tôi mời 1 em lên bảng, yêu cầu em lấy đi 2 viên kẹo, và đếm
số viên kẹo còn lại trong hộp.
Từ đó tôi lập phép tính trừ: 6 – 2 = 4
Qua việc sử dụng đồ dùng dạy học trực quan giúp học sinh hình dung và hiểu
rõ hơn về quá trình cộng và trừ. Thấy được sự biến đổi của các đối tượng hoặc số
lượng một cách trực tiếp, giúp học sinh kết nối khái niệm toán học với thực tế. Các
hoạt động sử dụng đồ dùng dạy học trực quan thường mang lại trải nghiệm học tập
tích cực và thú vị cho học sinh. Các em có cơ hội tham gia hoạt động tương tác, sáng
tạo và học hỏi từ những trải nghiệm thực tế, từ đó khuyến khích sự hứng thú và niềm
đam mê trong việc học toán.
Giải pháp 3: Sử dụng phương pháp dạy học tích cực tạo hứng thú và chú
ý cho học sinh.
Phương pháp dạy học tích cực môn Toán là phương pháp dạy học mà ở đó
giáo viên sẽ dùng đến một nhóm phương pháp giáo dục để giúp học sinh phát triển
kỹ năng học toán theo hướng chủ động, tích cực và sáng tạo.
Thông qua phương pháp này, học sinh sẽ hình thành các năng lực: tư duy và
lập luận, mô hình hóa, giải quyết các vấn đề và dụng các phương tiện cùng công cụ
của toán học.
Một số phương pháp dạy học tôi đã áp dụng khi dạy học sinh các bài về phép
cộng, phép trừ trong phạm vi 10:
Phương pháp “Bàn tay nặn bột”: Đây là một phương pháp dạy học mới
được áp dụng để dạy môn Tự nhiên và Xã hội. Song qua quá trình giảng dạy, có thể
áp dụng vào dạy môn Toán ở phần "Phép cộng, phép trừ”.
Khi sử dụng phương pháp này vào giảng dạy, học sinh được phán đoán, tự tìm
cách giải quyết phán đoán của mình rồi lại được tự mình kiểm chứng phán đoán của
mình. Mặt khác, các em được cùng các bạn tìm ra kết quả và cách làm của mỗi bài
toán nên các em nhớ rất lâu kiến thức đó
* Các bước tiến hành khi sử dụng phương pháp" Bàn tay nặn bột"
Bước 1: Giáo viên nêu tình huống xuất phát (bài toán)
Bước 2: Học sinh phán đoán kết quả
Bước 3: Học sinh để xuất cách làm
Bước 4: Học sinh tiến hành tìm kết quả theo cách làm mình đề xuất
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức
* Ví dụ minh họa : Dạy bài " Phép cộng trong phạm vi 10"
6
Phép tính: 3+1
Bước 1: Giáo viên nêu bài toán, có thể là một tình huống cụ thể, ví dụ: “Trên
bàn có 3 quả táo, cô đưa thêm 1 quả táo nữa. Hỏi trên bàn có tất cả bao nhiêu quả
táo?”
Bước 2: Học sinh phán đoán kết quả. Học sinh có thể đưa ra dự đoán hoặc suy
nghĩ của mình về số quả táo, ví dụ : “ Có 4 quả”, “ Có 5 quả” hoặc thậm chí nhầm
lẫn.
Bước 3: Học sinh đề xuất cách làm. Các em có thể sử dụng vật thật như quả
táo, viên sỏi, que tính,... để kiểm chứng suy nghĩ của mình.
Bước 4: Học sinh tiến hành tìm kết quả theo cách làm mình đề xuất. Học sinh
lấy 3 quả táo, thêm 1 quả nữa và tự đếm: “ 1, 2, 3, 4”.
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức.
Sau khi kiểm tra và thảo luận, học sinh nhận ra rằng 3 + 1= 4.
Giáo viên giúp học sinh ghi nhớ kết quả và hiểu bản chất của phép cộng.
*Tóm lại: Được học phép cộng, phép trừ dưới hình thức nghiên cứu khoa học
như trên, HS các em tự tìm được sẽ in đậm hơn trong trí nhớ. Những kiến thức đó
như là thành quả nghiên cứu khoa học của các em. Chính vì thế, nó dễ dàng khắc
phục những sai lầm nếu các em tiếp thu kiến thức bằng con đường máy móc bắt
chước làm mẫu.
Phương pháp quan sát
Đây là phương pháp qua quan sát trên hình vẽ (biểu đồ ven) cùng sự giúp đỡ
của GV, HS sẽ tìm ra kết quả của phép tính. Trên cơ sở đó HS tự phát hiện cơ sở
khoa học để thực hiện phép tính.
* Cách tiến hành khi sử dụng phương pháp quan sát
Bước 1: Giáo viên đưa hình vẽ và nêu vấn đề ( bài toán).
Bước 2: Học sinh tiến hành tìm kết quả của bài toán qua quan sát.
Bước 3: Học sinh trình bày cách làm và kết quả.
Bước 4: Giáo viên kiểm tra và chốt kiến thức cơ bản.
*Ví dụ minh họa : Dạy bài "Phép trừ trong phạm vi 10"
Bước 1: Lập phép tính 7 – 1
-Đưa hình vẽ
GV hỏi:
Có tất cả bao nhiêu hình tròn?
Cô cắt đi 1 hình tròn, muốn biết còn mấy hình trong ta làm phép tính gì?
Bước 2: Yêu cầu HS tìm kết quả của phép tính 7 - 1 qua hình vẽ.
- GV theo dõi và hướng dẫn HS chậm.
7
Bước 3: Cho HS báo cáo kết quả.
Ghi bảng: 7 - 1 = 6
Bước 4: Cho HS kiểm tra kết quả bằng cách đếm số hình tròn
- Chốt: 7 - 1 = 6
Mỗi phương pháp dạy học có những đặc trưng riêng. GV linh hoạt và sáng tạo
sử dụng các phương pháp đó trong dạy” Phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10” cho
HS lớp 1 sẽ giúp các em tạo được nền móng vững chắc cho ngôi nhà Toán học của
các em.
Giải pháp 4: Tổ chức trò chơi dạy học nhằm nâng cao hứng thú học tập
của học sinh.
Khi giáo viên tổ chức các trò chơi học tập thường xuyên, không chỉ giúp học
sinh lĩnh hội tri thức toán học một cách dễ dàng, mà còn giúp củng cố kiến thức và
khắc sâu chúng một cách vững chắc. Nhờ vào tính tương tác và thú vị của trò chơi,
học sinh được kích thích và hứng thú hơn trong quá trình học tập. Học sinh không
chỉ học qua lý thuyết mà còn áp dụng kiến thức vào thực tế, từ đó hiểu sâu hơn về
cách thức hoạt động của các phép tính và mối quan hệ giữa chúng.
Ngoài ra, việc tổ chức các trò chơi toán học thường xuyên cũng đánh thức
niềm say mê và hứng thú trong học tập của học sinh. Các em mong chờ những buổi
học vui vẻ và thú vị, và cảm thấy tự tin hơn khi tham gia vào các hoạt động toán học.
Điều này góp phần vào việc tạo ra một môi trường học tích cực và động viên học
sinh tiếp tục khám phá và phát triển khả năng toán học của mình.
Song muốn tổ chức được trò chơi trong dạy toán có hiệu quả thì người giáo
viên phải có kế hoạch chuẩn bị chu đáo, tỉ mỉ, cặn kẽ và đảm bảo các yêu cầu sau:
+ Trò chơi phải mang ý nghĩa giáo dục.
+ Trò chơi phải nhằm mục đích khởi động cho tiết học hoặc phải nhằm mục
đích củng cố, khắc sâu nội dung bài học.
+ Trò chơi phải phù hợp với tâm lý học sinh lớp 1, phù hợp với khả năng
người hướng dẫn, sự chuẩn bị của giáo viên và cơ sở vật chất của nhà trường.
+ Hình thức tổ chức trò chơi phải đa dạng, phong phú.
+ Trò chơi phải gây được hứng thú đối với học sinh.
Ví dụ: Trò chơi Bí mật hộp quà hay Viên kẹo ngọt ngào
- Củng cố kỹ năng làm phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10
Áp dụng trong các bài dạng: Em làm được những gì? Ôn tập, hoạt động kiểm
tra bài cũ, củng cố bài học.
Mục đích: Đây là trò chơi để củng cố hoặc kiểm tra bài cũ. Các em sẽ được thể
hiện mình.
Cách chơi: Mỗi em sẽ được chọn 1 hộp quà hoặc viên kẹo sau đó trả lời bài
tập bên trong.
8
Ví dụ: Trò chơi : “Ong bay về tổ”
Áp dụng trong các bài: về luyện tập phép cộng, phép trừ trong phạm vi 10
Mục đích: Đây là trò chơi rèn cho học sinh phát triển năng lực tính toán, năng
lực giao tiếp và hợp tác.
Cách chơi: GV chọn ra 2 đội chơi có các thành viên tìm các chú ong đúng với
các phép tính hoặc kết quả cần tìm để giúp chú ong bay về đúng tổ của mình .
Ngoài ra, ở một số tiết học, tôi ứng dụng thêm hiệu quả từ công nghệ thông tin,
thiết kế một số trò chơi bằng Powerpoint, quizizz,….giúp học sinh hứng thú hơn vào
bài học nhờ hiệu ứng hình ảnh từ các công cụ này.
9
Ví dụ minh họa: Khi dạy bài: Bài 10: Phép cộng trong phạm vi 10 - SGK Kết
nối tri thức ( trang 56), tôi lồng ghép trò chơi Tom&Jerry được thiết kế theo hình
thức trắc nghiệm chọn đáp án đúng bằng phần mềm PowerPoint như sau:
Hoặc Khi dạy bài: Bảng cộng, bảng trừ trong phạm vi 10 (Trang 82), để
củng cố kiến thức cho học sinh, ở cuối tiết học, tôi tổ chức trò chơi “Gấu tìm mật”
bằng công cụ PowerPoint để học sinh cùng tham gia.
10
Một công cụ khác tôi thường sử dụng để học sinh có thể ôn lại kiến thức ở trên
lớp lẫn ở nhà là Quizizz thông qua việc tạo các câu hỏi, bài tập để các em tham gia.
Trường hợp ở nhà, tôi nhờ phụ huynh hỗ trợ các em làm bài thông qua điện thoại
thông minh để ôn tập thêm ( đối với một số học sinh chưa thành thạo và có nhu cầu
muốn ôn tập bài cũ).
Hình ảnh minh họa bài tập sử dụng công cụ Quizizz để tạo câu hỏi trắc nghiệm
củng cố
Tóm lại, tổ chức trò chơi trong dạy học toán lớp 1 mang lại hiệu quả cao trong
việc giúp học sinh thực hiện tốt phép cộng, trừ trong phạm vi 10. Thông qua các trò
chơi, học sinh được kích thích sự hứng thú và tích cực tham gia vào quá trình học
tập. Trò chơi tạo cơ hội cho các em thực hành nhiều lần các phép tính, từ đó nâng cao
khả năng ghi nhớ và vận dụng kiến thức. Hơn nữa, việc học qua trò chơi giúp học
sinh giảm bớt áp lực, tạo môi trường học tập thoải mái và vui vẻ. Nhờ vậy, các em
không chỉ nắm vững kiến thức mà còn phát triển kỹ năng tư duy và giải quyết vấn đề
một cách tự nhiên và hiệu quả.
Giải pháp 5: Vận dụng hiệu quả của phương pháp giáo dục STEM giúp
học sinh tạo công cụ hỗ trợ thực hiện phép cộng, trừ trong phạm vi 10.
Giáo dục STEM là phương thức giáo dục tích hợp theo cách tiếp cận liên môn
và thông qua thực hành, ứng dụng. Thay vì dạy bốn môn học như các đối tượng tách
biệt và rời rạc, STEM kết hợp chúng thành một mô hình học tập gắn kết dựa trên các
ứng dụng thực tế. Vì vậy khi áp dụng hiệu quả của phương pháp này vào việc cho HS
thực hành các hoạt động trải nghiệm tạo sản phẩm học tập môn Toán học sẽ giúp các
11
em ghi nhớ kiến thức, vận dụng kiến thức và có hứng thú hơn so với việc áp dụng
các phương pháp dạy học truyền thống.
Dạy học STEM tuy mới được đưa vào giảng dạy từ đầu năm học 2024-2025
nhưng đã đem lại những kết quả đáng kể trong môn học Toán.
Cách tiến hành:
Tôi tiến hành xây dựng bài học STEM với chủ đề "Dụng cụ tính cộng, trừ".
Nội dung chủ đạo của chủ đề lần này là môn Toán được áp dụng khi dạy bài cuối
cùng của chủ đề 2: "Các phép tính trong phạm vi 10". Học sinh sẽ thực hành các
phép tính cộng, trừ trong phạm vi 10. Ngoài ra chủ đề còn tích hợp thêm nội
dung môn Mỹ thuật: Biết cách sử dụng công cụ phù hợp với vật liệu và an toàn trong
thực hành, sáng tạo, thực hiện được các bước trong thực hành làm ra sản phẩm, sử
dụng được màu sắc khác nhau để làm ra sản phẩm, trưng bày, chia sẻ cảm nhận về
sản phẩm.
Bước 1: Khởi động – Khám phá vấn đề (Tạo tình huống thực tế)
Bước 2: Hình thành kiến thức (Toán học)
Bước 3: Hoạt động thiết kế – Sáng tạo (Kỹ thuật & Công nghệ)
Bước 4: Áp dụng và giải quyết vấn đề (Thực tế)
Bước 5: Đánh giá và phản hồi
Ví dụ cụ thể như sau:
Bước 1: Khởi động – Khám phá vấn đề (Tạo tình huống thực tế)
Tình huống: “Cô giáo nhận nhiệm vụ mở một cửa hàng bán trái cây nhỏ.
Nhưng cô cần các bạn giúp đỡ để tính số lượng trái cây để bán. Các con đã sẵn sàng
trở thành những người quản lý thông minh chưa?”
Hỏi gợi mở:
- Nếu cửa hàng có 5 quả táo, mẹ mang thêm 3 quả nữa, thì có tất cả bao nhiêu
quả?
- Nếu bán đi 2 quả cam trong số 8 quả cam, còn lại bao nhiêu quả?
Học sinh bước đầu nhận ra sự cần thiết của việc thực hiện phép cộng và trừ
trong cuộc sống.
Bước 2: Hình thành kiến thức (Toán học)
Giới thiệu phép cộng: Thêm vào, tăng lên.
Giới thiệu phép trừ: Bớt đi, giảm đi.
Dùng vật liệu trực quan: Que tính, khối hình, trái cây nhựa hoặc hình vẽ minh
họa.
Hoạt động thực hành:
Thực hiện phép cộng bằng cách thêm số lượng đồ vật. Ví dụ: “5 quả táo thêm
3 quả, được mấy quả?”
Thực hiện phép trừ bằng cách bớt đi số lượng đồ vật. Ví dụ: “Có 8 quả táo,
bán đi 2 quả, còn lại bao nhiêu quả?”
Bước 3: Hoạt động thiết kế – Sáng tạo (Kỹ thuật & Công nghệ)
Nhiệm vụ nhóm: Chế tạo “Chiếc hộp phép toán thông minh”
12
Nguyên liệu: Hộp giấy, bìa màu, que tính, giấy ghi phép toán.
Cách làm:
Cắt 2 khe trên hộp giấy, mỗi khe là nơi học sinh thả các thẻ ghi số hoặc phép
tính cộng, phép trừ trong phạm vi 10.
Học sinh nhét các thẻ ghi số vào khe, cộng hoặc trừ chúng và ghi kết quả ra
giấy.
Hoặc: Dùng công nghệ đơn giản như PowerPoint hoặc phần mềm vẽ để tạo
hình minh họa phép toán.
Bước 4: Áp dụng và giải quyết vấn đề (Thực tế)
Tạo “Siêu thị mini” trong lớp:
Dùng các mô hình hoặc hình ảnh trái cây, bánh kẹo.
Học sinh đóng vai người bán và người mua. Người mua đặt câu hỏi về số
lượng, người bán phải cộng hoặc trừ các phép tính trong phạm vi 10 để trả lời chính
xác.
Tổ chức trò chơi:
“Ai nhanh hơn”: Học sinh giơ bảng đáp án khi nghe câu hỏi cộng/trừ.
“Tìm kho báu”: Giải đúng phép tính để nhận gợi ý tìm kho báu.
Bước 5: Đánh giá và phản hồi
Tự đánh giá: Cho học sinh làm phiếu bài tập hoặc bài trắc nghiệm nhanh.
Nhận xét đồng đội: Đánh giá các nhóm dựa trên sự hợp tác, sáng tạo và kết
quả.
Phản hồi từ giáo viên: Ghi nhận nỗ lực, khuyến khích sáng tạo và giải thích
những lỗi sai nếu có.
Trong quá trình tạo ra sản phẩm, đôi khi học sinh bố trí dụng cụ không chính
xác. Nhưng đối với các khóa học STEM, thất bại là một phần tất yếu của quá trình.
Điều quan trọng là học sinh học được gì và học được những kỹ năng gì trong và sau
quá trình học.
5.2. Về khả năng áp dụng của sáng kiến
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu cùng với sự nỗ lực của bản thân và học
sinh, tôi đã thu được kết quả thật đáng mừng:
- Học sinh không những nắm được kiến thức bài học mà còn nhớ rất lâu
những kiến thức của bài học đó.
- Các em được rèn khả năng nhanh nhẹn, khéo léo và tạo cho các em mạnh
dạn, tự tin hơn.
- Học sinh rất hứng thú với giờ học, chất lượng của học sinh ngày một tăng
lên, đã xoá được số lượng học sinh chưa hoàn thành; số học sinh xếp loại đạt từ hoàn
thành tăng lên rõ rệt.
- Học sinh hứng thú, biết hợp tác trong làm việc nhóm, biết chia sẽ với nhau
cùng nhau tiến bộ hơn trong môn toán. Mỗi giờ học toán sôi nổi, vui vẻ và tràn đầy
tính tích cực của học sinh.
- Điều đáng mừng hơn nữa là các em rất hào hứng, chờ đợi tiết học toán tạo
cho các em lòng yêu thích, ham mê với môn Toán.
13
Vận dụng các giải pháp trên vào dạy học Toán, chất lượng học sinh tăng lên rõ
rệt qua từng giai đoạn của các năm học, cụ thể qua bảng khảo sát chất lượng như sau:
Xếp loại
Năm học
Thời
điểm
Hoàn thành Tốt
Hoàn thành
Chưa Hoàn
thành
Số lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
Số
lượng
Tỉ lệ
2023-2024
Cuối kì 1
19/9
57,6%
14/3
42,4%
0
0
(Số HS:
Cuối
năm
23/10
69,7%
10/2
30,3%
0
0
Cuối kì 1
14/8
56%
11/5
44%
0
0
33/12)
2024-2025
(Số HS:
25/13)
Các giải pháp mà tôi đưa ra có thể áp dụng được khối lớp 1 tại Trường Tiểu
học và Trung học cơ sở Ninh Đông và khối lớp 1 của một số trường Tiểu học trên địa
bàn thị xã Ninh Hòa.
* Điều kiện cần thiết để áp dụng các giải pháp:
Nhà trường cần tạo điều kiện đảm bảo đầy đủ trang thiết bị, phương tiện và đồ
dùng dạy h
 






Các ý kiến mới nhất